Thị trường carbon đóng vai trò then chốt trong mục tiêu phát thải ròng bằng 0 toàn cầu, đặc biệt với các ngành khó giảm phát thải. Hiện các cơ chế định giá carbon đã bao phủ khoảng 24% lượng phát thải toàn cầu và tạo ra hơn 100 tỷ USD doanh thu năm 2024, đồng thời được kỳ vọng có thể huy động 10–40 tỷ USD vào năm 2030 cho các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển.
Trên thị trường carbon toàn cầu hiện nay, Trung Quốc (CCER), Nhật Bản (J-Credit), Hàn Quốc (KOC), California (Compliance Offset) đóng vai trò là nhà phát hành tín chỉ trong nước quy mô lớn. Các nước này xây dựng hệ thống tín chỉ riêng, phát hành và quản lý nguồn cung trong phạm vi quốc gia/khu vực.
Trong khi đó, thị trường tiêu thụ tín chỉ hàng đầu là Liên minh châu Âu, Hoa Kỳ với việc các tập đoàn lớn mua tín chỉ carbon tự nguyện để thực hiện cam kết trung hòa carbon và NetZero.
Theo báo cáo Wealth Management Vol.10 của SHS mới đây, Việt Nam cùng với Indonesia, Brazil, Kenya, Ấn Độ được đóng vai trò là những quốc gia cung ứng tín chỉ ra thị trường quốc tế khi tận dụng tiềm năng lớn từ rừng, đất đai và năng lượng tái tạo để phát triển dự án tín chỉ.
Đáng chú ý, nhiều quốc gia đồng thời đảm nhận nhiều vai trò cùng lúc. Hoa Kỳ vừa là nơi đặt trụ sở của các hệ thống đăng ký tín chỉ carbon lớn nhất thế giới (ACR, CAR), vừa là thị trường tiêu thụ tín chỉ tự nguyện hàng đầu thông qua các tập đoàn công nghệ.
Trung Quốc vừa là nhà phát hành tín chỉ CCER quy mô lớn nhất châu Á, vừa là thị trường tiêu thụ nội địa lớn cho tín chỉ CCER. Nhật Bản vừa vận hành cơ chế J-Credit trong nước, vừa triển khai Cơ chế Tín chỉ Chung (JCM) với 29 quốc gia đối tác nhằm nhập khẩu tín chỉ carbon chất lượng cao.
Tuy nhiên, trong những năm gần đây, bức tranh các quốc gia dẫn đầu thị trường tín chỉ carbon đang có sự chuyển dịch đáng kể. Các quốc gia châu Á và các nền kinh tế mới nổi ngày càng đóng vai trò quan trọng hơn, không chỉ với tư cách là nguồn cung tín chỉ mà còn là những thị trường tiêu thụ và trung tâm giao dịch mới.
Sự trỗi dậy của Singapore như một trung tâm giao dịch tín chỉ carbon khu vực ASEAN, sự mở rộng nhanh chóng của cơ chế CCER tại Trung Quốc, và việc Indonesia vận hành sàn giao dịch tín chỉ carbon (IDXCarbon) là những minh chứng rõ nét cho xu hướng này.
Tại Đông Nam Á, theo Climate Watch, xét về khía cạnh phát thải, nông nghiệp và thiên nhiên, năng lượng và giao thông vận tải là những lĩnh vực đóng góp lớn nhất vào lượng phát thải khu vực (khoảng 65%).
Riêng Việt Nam có tỷ trọng phát thải đáng kể từ lĩnh vực năng lượng và công nghiệp, trong khi phát thải từ sử dụng đất và nông nghiệp vẫn chiếm vai trò quan trọng. Điều này cho thấy Việt Nam vừa chịu áp lực chuyển dịch năng lượng, vừa có cơ hội lớn từ phát triển năng lượng tái tạo, tín chỉ carbon rừng và nông nghiệp bền vững nếu tận dụng tốt quá trình chuyển đổi xanh.
Đánh giá về tiềm năng giảm phát thải dựa vào thiên nhiên theo thị trường, báo cáo cho biết với sự đa dạng sinh học phong phú và nguồn tài nguyên biển và đất liền rộng lớn, Đông Nam Á có thể tận dụng nhu cầu quốc tế đang tăng lên bằng cách đóng góp các khoản tín dụng trồng rừng và tránh phá rừng cho giao dịch carbon quốc tế và củng cố vai trò là nhà cung cấp tín dụng carbon dài hạn.
Theo đó, dẫn đầu là Indonesia (với 749,4 triệu tấn CO2e), trong khi 9 thị trường Đông Nam Á có tiềm năng tạo ra 1.267,5 triệu tín dụng carbon từ tài nguyên biển và đất liền vào năm 2050. Việt Nam dự kiến tạo ra 103 triệu tín chỉ carbon vào năm 2050.
Đối với ASEAN, phát triển thị trường carbon cần trở thành một trụ cột trong chiến lược kinh tế- môi trường khi khu vực vừa theo đuổi tăng trưởng mạnh mẽ vừa phải thực hiện cam kết khí hậu. Với lợi thế sở hữu khoảng 1/3 giải pháp carbon dựa vào tự nhiên của thế giới, ASEAN có thể tạo ra tới 3.000 tỷ USD doanh thu và 13,7 triệu việc làm xanh vào năm 2050 nếu mở rộng hiệu quả thị trường này.
Tuy nhiên, hiện thị trường carbon trong khu vực còn phân mảnh do khác biệt về khung pháp lý giữa các quốc gia, hạn chế giao dịch xuyên biên giới và thu hút đầu tư. Việc hài hòa hóa theo Điều 6 của Thỏa thuận Paris, cùng các sáng kiến như ASEAN Common Carbon Framework, sẽ giúp tăng tính minh bạch, thanh khoản và thu hút dòng vốn quốc tế vào khu vực.
Đánh giá về cơ hội khai thác tiềm năng tài nguyên và dòng vốn khí hậu để tạo động lực tăng trưởng mới, báo cáo nêu rõ, ASEAN sở hữu lợi thế lớn về năng lượng tái tạo và các bể hấp thụ carbon tự nhiên như rừng, đất than bùn và hệ sinh thái ven biển.
Việc phát triển thị trường carbon chất lượng cao có thể chuyển hóa tiềm năng này thành dòng tài chính khí hậu quốc tế, tạo thêm nguồn thu lớn và hàng triệu việc làm xanh đến năm 2050. Đồng thời, cơ chế theo Điều 6 Thỏa thuận Paris và xu hướng CBAM toàn cầu mở ra cơ hội để ASEAN tham gia sâu hơn vào thương mại tín chỉ carbon và bảo vệ năng lực cạnh tranh xuất khẩu.
Tuy nhiên, thách thức đặt ra hiện nay đó là sự thiếu đồng bộ về cơ chế định giá, tiêu chuẩn hạch toán và mức độ sẵn sàng giữa các quốc gia khiến thị trường carbon ASEAN còn rời rạc, hạn chế giao dịch xuyên biên giới và làm gia tăng rủi ro chính sách cho doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, khác biệt về cơ cấu năng lượng và năng lực giảm phát thải khiến việc xây dựng một hệ thống carbon chung, tương thích và minh bạch trên toàn khu vực trở nên phức tạp hơn.
Việt Nam đang bước vào giai đoạn bản lề trong quá trình hình thành và phát triển thị trường carbon. Hàng loạt dấu mốc chính sách quan trọng đã được thiết lập, từ Luật Bảo vệ Môi trường sửa đổi đến Nghị định 06/2022/NĐ-CP và Nghị định 119/2025/NĐ-CP. Những văn bản này thể hiện cam kết chính thức của Chính phủ trong việc xây dựng thị trường carbon quốc gia, phù hợp với mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 cũng như các nghĩa vụ quốc tế theo Hiệp định Paris.
Cụ thể, theo Nghị định 119/2025/NĐ-CP, thị trường carbon nội địa giai đoạn đầu sẽ cho phép sử dụng tín chỉ carbon để bù trừ tối đa 30% nghĩa vụ giảm phát thải. Cùng với đó, thị trường carbon tự nguyện (VCM) tiếp tục đóng vai trò cầu nối quan trọng, tạo dư địa cho dòng vốn đầu tư, đổi mới sáng tạo và triển khai dự án- đặc biệt trong các lĩnh vực như nông nghiệp, nơi tiềm năng giảm phát thải và hấp thụ carbon còn rất lớn.
Trong những năm qua, Việt Nam đã từng bước tiến tới việc thiết lập một thị trường carbon nội địa hoạt động hiệu quả, với các chính sách chuyển từ chiến lược khí hậu và tăng trưởng xanh tổng quát sang khung pháp lý chi tiết và các biện pháp thực hiện ở cấp ngành. Các chính văn bản, sách ban hành thời gian qua đã từng bước hoàn thiện hành lang pháp lý cho vận hành thí điểm thị trường carbon ở Việt Nam, trước khi vận hành chính thức từ năm 2029.
Việt Nam đang đứng trước bước ngoặt lịch sử trên đường đua Net Zero 2050. Tín chỉ carbon đã trở thành một lớp tài sản đầu tư tiềm năng mới. Với tiềm năng "rừng vàng, biển bạc" cùng sự chuyển mình mạnh mẽ trong nông nghiệp carbon thấp và kinh tế tuần hoàn, Việt Nam đang nắm giữ cơ hội trở thành nguồn cung tín chỉ quan trọng trên bản đồ toàn cầu.
Theo Báo cáo tình trạng thị trường carbon 2026 của Liên minh hành động carbon quốc tế (ICAP), hiện có 41 hệ thống ETS đang hoạt động trên toàn cầu, bao phủ khoảng 26% lượng phát thải khí nhà kính của thế giới. Hiện các nền kinh tế đang vận hành hệ thống giao dịch phát thải ETS chiếm khoảng 63% GDP toàn cầu và hơn một nửa dân số thế giới.
Tại Diễn đàn Đô thị Thế giới (WUF13), nhiều chuyên gia cảnh báo các thành phố toàn cầu đang đối mặt áp lực kép: vừa duy trì tăng trưởng kinh tế, vừa thích ứng với biến đổi khí hậu và giảm phát thải. Trong bối cảnh đó, đầu tư hạ tầng xanh và xây dựng các đô thị chống chịu đang trở thành ưu tiên chiến lược của nhiều nền kinh tế…
Thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực Nông nghiệp và Môi trường tiếp tục được cắt giảm, phân quyền và đơn giản hóa mạnh mẽ nhằm tạo thuận lợi cho tổ chức, cá nhân, giảm chi phí tuân thủ, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Việc cải cách được gắn với cơ chế hậu kiểm, tăng cường giám sát, kiểm tra và xử lý vi phạm...
Trong bối cảnh thế giới ngày càng đối mặt với áp lực bảo đảm an ninh năng lượng dài hạn, giảm phát thải carbon và xử lý bài toán tài nguyên uranium, Nga đang tăng tốc thúc đẩy công nghệ điện hạt nhân thế hệ IV dựa trên lò phản ứng neutron nhanh và chu trình nhiên liệu hạt nhân khép kín...
Trước chủ trương tinh gọn bộ máy theo Nghị quyết 105/NQ-CP, nhiều tổ chức bảo tồn thiên nhiên kiến nghị Chính phủ tránh sáp nhập các vườn quốc gia một cách cơ học. Việc tinh gọn cần dựa trên đánh giá khoa học để không gây hại đến đa dạng sinh học và an ninh sinh thái quốc gia...
Theo quy định, từ ngày 25/5, các nhà sản xuất, nhập khẩu các sản phẩm, bao bì; ắc quy và pin; dầu nhớt; săm lốp; điện- điện tử khi đưa ra thị trường Việt Nam phải thực hiện trách nhiệm tái chế theo tỷ lệ quy định cụ thể...
Không còn chỉ được nhìn nhận là thị trường lao động chi phí thấp, Việt Nam đang trở thành đối tác chiến lược trong chuỗi đổi mới công nghệ của nhiều tập đoàn toàn cầu. Với Qualcomm, Việt Nam hiện giữ vị trí trung tâm số 1 tại Đông Nam Á. Việc hãng khánh thành Trung tâm R&D tại Hà Nội ngày 12/5/2026 được xem là bước đi chiến lược mới, tập trung vào các lĩnh vực AI, bán dẫn và xe tự hành, đồng thời mở ra thêm nhiều cơ hội cho nguồn nhân lực công nghệ trong nước. Trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam / VnEconomy, TS. Trần Mỹ An (An Mei Chen), Phó Chủ tịch Kỹ thuật tại Bộ phận Nghiên cứu AI thuộc Tập đoàn Qualcomm cho biết tập đoàn đang hướng tới xây dựng một trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D) đạt tiêu chuẩn toàn cầu ngay tại Việt Nam. Bên cạnh mục tiêu thúc đẩy đổi mới sáng tạo, Trung tâm R&D tại Hà Nội sẽ đóng vai trò hạt nhân trong việc nâng tầm và củng cố hệ sinh thái công nghệ Việt Nam.
Không còn chỉ được nhìn nhận là thị trường lao động chi phí thấp, Việt Nam đang trở thành đối tác chiến lược trong chuỗi đổi mới công nghệ của nhiều tập đoàn toàn cầu. Với Qualcomm, Việt Nam hiện giữ vị trí trung tâm số 1 tại Đông Nam Á. Việc hãng khánh thành Trung tâm R&D tại Hà Nội ngày 12/5/2026 được xem là bước đi chiến lược mới, tập trung vào các lĩnh vực AI, bán dẫn và xe tự hành, đồng thời mở ra thêm nhiều cơ hội cho nguồn nhân lực công nghệ trong nước. Trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam / VnEconomy, TS. Trần Mỹ An (An Mei Chen), Phó Chủ tịch Kỹ thuật tại Bộ phận Nghiên cứu AI thuộc Tập đoàn Qualcomm cho biết tập đoàn đang hướng tới xây dựng một trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D) đạt tiêu chuẩn toàn cầu ngay tại Việt Nam. Bên cạnh mục tiêu thúc đẩy đổi mới sáng tạo, Trung tâm R&D tại Hà Nội sẽ đóng vai trò hạt nhân trong việc nâng tầm và củng cố hệ sinh thái công nghệ Việt Nam.