Kinh tế tầm thấp (Economy of low altitude) đang được nhiều quốc gia coi là không gian tăng trưởng mới. Ở Việt Nam, khái niệm kinh tế tầm thấp đã bắt đầu được chú ý, ông đánh giá thế nào về cơ hội, lợi thế của Việt Nam trong lĩnh vực không gian kinh tế này?
Tôi cho rằng kinh tế tầm thấp sẽ là một không gian tăng trưởng rất đáng chú ý trong giai đoạn tới. Khi nhắc tới kinh tế tầm thấp, nhiều người thường chỉ nghĩ tới phương tiện bay, nhưng thực tế đây là một hệ sinh thái kinh tế mới, bao gồm thiết bị bay, hạ tầng vận hành, điều hành bay, dữ liệu, phần mềm, dịch vụ nhiệm vụ, bảo trì, đào tạo và các ngành công nghiệp phụ trợ...
Với Việt Nam, cơ hội là rất rõ ràng. Chúng ta có địa hình đa dạng, nhu cầu lớn trong các lĩnh vực như giám sát hạ tầng, nông nghiệp, lâm nghiệp, cứu hộ cứu nạn, an ninh, logistics chuyên dụng và chuyển đổi số tại hiện trường... Đây đều là những lĩnh vực mà UAV có thể tạo ra hiệu quả rõ rệt về chi phí, tốc độ và chất lượng dữ liệu. Việt Nam cũng có lợi thế về nguồn nhân lực kỹ thuật trẻ, khả năng thích ứng công nghệ nhanh và thị trường nội địa đủ lớn trước khi vươn ra bên ngoài.
Tuy nhiên, lợi thế lớn nhất không chỉ nằm ở nhu cầu, mà ở khả năng chúng ta chủ động xây dựng được năng lực công nghệ và hệ sinh thái hỗ trợ. Nếu làm tốt, kinh tế tầm thấp không chỉ tạo ra sản phẩm mới, mà còn tạo ra chuỗi giá trị mới.
Với HTI, chúng tôi không nhìn UAV như một sản phẩm đơn lẻ mà đang phát triển theo hướng hệ thống, tức là kết hợp phương tiện bay, payload, trạm điều khiển, phần mềm quản lý, dữ liệu nhiệm vụ và khả năng tích hợp theo từng bài toán ứng dụng. Đó là lợi thế rất quan trọng, vì thị trường trong tương lai sẽ không chỉ mua một chiếc UAV, mà sẽ cần một giải pháp hoàn chỉnh: vận hành, bảo trì và tạo ra giá trị thực tế.
Kinh tế tầm thấp, trong đó lĩnh vực máy bay không người lái (UAV) chiếm vị trí quan trọng, được nhìn nhận là một trong những động lực góp phần vào tăng trưởng kinh tế hai chữ số của Việt Nam trong thập kỷ tới. Nếu “đo đếm” bằng dung lượng thị trường, theo ông, lĩnh vực này có quy mô và vai trò như thế nào trong chiến lược phát triển kinh tế trong kỷ nguyên mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo là động lực chính của tăng trưởng?
Quy mô kinh tế Việt Nam hiện khoảng hơn 500 tỷ USD, trong khi đến năm 2030, kinh tế tầm thấp mới được dự báo đạt khoảng 10 tỷ USD. Như vậy, tỷ trọng đóng góp trực tiếp của lĩnh vực này vẫn còn khá khiêm tốn.
Tuy nhiên, khi lĩnh vực UAV phát triển sẽ có khả năng kích hoạt và lan tỏa sang nhiều lĩnh vực khác, nhờ tối ưu hóa nguồn lực, tiết kiệm nhân công và nâng cao năng suất trong hàng loạt ngành nghề. Vì vậy, nếu chỉ nhìn kinh tế tầm thấp như một ngành độc lập thì vai trò của nó có thể chưa thực sự nổi bật; nếu đặt trong bức tranh tổng thể thì đây lại là một không gian tăng trưởng rất đáng chú ý trong giai đoạn tới.
Kinh tế tầm thấp không chỉ là các phương tiện bay, mà thực chất là một hệ sinh thái kinh tế mới, bao gồm thiết bị bay, hạ tầng vận hành, hệ thống điều hành bay, dữ liệu, phần mềm, dịch vụ nhiệm vụ, bảo trì, đào tạo và các ngành công nghiệp phụ trợ liên quan.
Ví dụ như trong lĩnh vực logistics, đặc biệt tại các khu vực địa hình phức tạp, hiểm trở, lợi thế của UAV càng rõ rệt. Những quãng đường rừng 10 km mất hàng giờ di chuyển bằng phương tiện truyền thống, nhưng với UAV, thời gian có thể rút ngắn xuống chỉ còn vài phút.
Với các tòa nhà cao tầng, xe chuyên dụng khó tiếp cận, UAV lại có thể tiếp cận nhanh chóng ở độ cao 30, 50, thậm chí 100 tầng. Từ đó, mở ra khả năng triển khai các giải pháp chữa cháy từ trên cao hoặc hỗ trợ cứu hộ trong những tình huống khẩn cấp.
HTI được biết đến là một trong những doanh nghiệp “dấn thân” khá sớm vào lĩnh vực UAV và hiện nằm trong số ít doanh nghiệp trong nước đang tự sản xuất UAV. Vậy đến nay, HTI đã có lãi trong lĩnh vực UAV chưa, thưa ông?
Chúng tôi bắt đầu nghiên cứu và phát triển máy bay không người lái từ năm 2020. Những ngày ấy, câu chuyện sản xuất máy bay không người lái vẫn còn khá xa vời. Tuy nhiên, may mắn thời điểm đó HTI đang đại diện và phân phối độc quyền cho khá nhiều công ty công nghệ hàng đầu thế giới trong ngành, nhờ đó đội ngũ có cơ hội được đào tạo, tiếp cận những công nghệ hiện đại từ thiết kế, khí động học, cơ khí, phần mềm cho đến tích hợp cho UAV. Khi đó cũng một số công ty làm máy bay không người lái, nhưng chủ yếu là các dòng drone phổ thông. HTI không đi theo hướng đó, mà tập trung vào dòng VTOL (máy bay cất hạ cánh thẳng đứng), vì: một là, muốn khác biệt với thị trường; hai là, quyết định cũng xuất phát từ bài toán thực tế.
Nghiên cứu, thử nghiệm mất 3 năm thì ra được sản phẩm. Khi dần làm chủ được công nghệ, làm chủ được khí động học, truyền dẫn tín hiệu, phân tích hình ảnh…, lúc đó chúng tôi mới dám thử nghiệm đến các vật liệu như fiber optic hay composite như bây giờ.
Dấu mốc quan trọng là khi HTI đưa sản phẩm bay thử với các lực lượng thực thi pháp luật tại Bắc Ninh. UAV đạt cự ly trên 30 km, thời gian bay khoảng 150 phút mà vẫn còn dung lượng pin dự phòng, tín hiệu truyền ổn định và chất lượng hình ảnh tốt. Ban lãnh đạo Công ty và anh em Bộ phận R&D (nghiên cứu và phát triển) mới thực sự tự tin với sản phẩm, lúc đó mới dám khẳng định đã làm chủ công nghệ.
Dù vậy, đến thời điểm hiện tại HTI vẫn lỗ. Làm R&D thất bại là nhiều chứ thành công là mấy. Chúng tôi xác định làm R&D thì không thể hoàn vốn nhanh được.
Chiến lược làm sản phẩm UAV của doanh nghiệp hướng tới đối tượng khách hàng nào?
Ngay từ đầu, chúng tôi đã muốn sản xuất UAV để phục vụ cho giám sát, trinh sát, kiểm tra hiện trường và vận hành trong những điều kiện đòi hỏi độ tin cậy cao. Như vậy sẽ cần loại thiết bị có khả năng bay xa, bay cao, thời gian bay dài, đồng thời giám sát và truyền hình ảnh về trụ sở một cách ổn định, bảo mật.
Tại thời điểm đó, ở Việt Nam chỉ phổ biến các dòng drone chỉ bay được 5–6 km, xa lắm thì 10 km. Khi đó, HTI mới quyết định sản xuất Horus, UAV có khả năng bay tới 30–50 km, thời gian bay khoảng 150 phút, tức là 2 tiếng rưỡi và tốc độ có thể lên đến hàng trăm km/h. Rất may khi triển khai bay thử cho các đơn vị thực thi pháp luật thì đều đáp ứng được yêu cầu nghiệp vụ.
Trong quá trình làm, HTI may mắn cũng nhận được sự quan tâm, tạo điều kiện từ phía cơ quan quản lý, trong đó có Bộ Khoa học và Công nghệ.
Tại Triển lãm Tuần lễ Số quốc tế Việt Nam vào tháng 10/2025, HTI đã mang sản phẩm UAV trinh sát VTOL Horus P02 bay ở độ cao 200 mét, sử dụng hệ thống AI để phát hiện, ghi hình các mục tiêu chuyển động, truyền hình ảnh độ phân giải cao ra trình diễn và công bố đạt tỷ lệ nội địa hóa khoảng 80%. Vậy hiểu tỷ lệ 80% nội địa hóa ở đây là nằm ở những cấu phần như thế nào? Ông nghĩ sao về việc Việt Nam có thể tạo ra sản phẩm UAV 100% nội địa hóa?
Nội địa hóa không chỉ được hiểu theo góc nhìn vật tư, mà còn phải nhìn ở góc độ năng lực kỹ thuật, quy trình phát triển và mức độ chủ động trong cải tiến sản phẩm.
Từ thiết kế tổng thể nền tảng UAV, kết cấu thân vỏ và cơ khí, tích hợp hệ thống, phát triển một phần mềm,... chúng tôi đều đã làm chủ nên hoàn toàn tự tin có thể thiết kế hệ thống đồng bộ theo yêu cầu ứng dụng thực tế, chứ không chỉ lắp ráp từ các modul sẵn có.
Tuy vậy, chúng tôi cũng nhìn nhận rất thực tế rằng, trong chuỗi giá trị UAV hiện nay, vẫn có những phần Việt Nam nói chung và HTI nói riêng còn phụ thuộc vào bên ngoài, đặc biệt là một số linh kiện điện tử, cảm biến chuyên dụng, vật liệu hoặc các cụm linh kiện có hàm lượng công nghệ vi điện tử rất cao. Đây là thách thức chung của hầu hết các doanh nghiệp công nghệ đang phát triển theo hướng làm chủ thiết bị phức tạp.
Chúng tôi đi theo lộ trình rõ ràng: phần nào có thể chủ động thiết kế và sản xuất trong nước thì đẩy mạnh nội địa hóa; phần nào chưa làm được ngay thì chủ động tích hợp, kiểm soát chất lượng và từng bước tìm hướng thay thế.
Tất nhiên, chúng tôi rất mong sẽ sớm có một hệ sinh thái doanh nghiệp cùng hợp tác từ trong nước. Nhất là trong bối cảnh thế giới đang phân mảnh, phân cực mạnh, việc làm chủ sản phẩm và sản xuất trong nước là rất quan trọng. Nếu các doanh nghiệp trong hệ sinh thái phối hợp tốt với nhau thì việc các doanh nghiệp Việt tạo ra sản phẩm 100% nội địa là hoàn toàn khả thi.
Kinh tế tầm thấp thực chất là một hệ sinh thái mới, với tiềm năng rất lớn, nhưng để phát triển cần thời gian, chính sách rõ ràng và sự tham gia đồng bộ của nhiều doanh nghiệp. Về phía HTI, chúng tôi xác định sẽ tiếp tục đầu tư mạnh cho UAV, trong đó có kế hoạch xây dựng nhà máy UAS với tổng vốn hơn 50 triệu USD để sẵn sàng cho giai đoạn phát triển tiếp theo.
Cụ thể, nhà máy sản xuất của HTI có công suất dự kiến bao nhiêu, thưa ông?
Khoảng 3.000 UAV mỗi năm, phục vụ cả thị trường trong nước và xuất khẩu. Đây là mức tính toán thận trọng. Nếu chúng tôi mở rộng quá nhanh khi thị trường chưa sẵn sàng sẽ gây lãng phí, nhưng nếu không chuẩn bị trước thì khi cơ hội đến lại khó đáp ứng kịp.
Trong 5–10 năm tới, UAV chắc chắn sẽ là lĩnh vực mà HTI đầu tư nhiều nguồn lực nhất vì đã nhìn thấy rõ cơ hội và tiềm năng của thị trường này. Tuy nhiên, đây cũng là lĩnh vực cần đầu tư rất quyết liệt, nguồn lực lớn, nên chúng tôi đã xác định chấp nhận lỗ trong thời gian dài và đầu tư hết năng lực của mình.
Để phát triển bền vững, doanh nghiệp không thể đi một mình. Ngành này cần một hệ sinh thái đủ mạnh, từ linh kiện, vật liệu đến các hệ thống phụ trợ.
Thực tế thời gian qua khi các cuộc xung đột xảy ra, người ta bắt đầu nhìn nhận UAV không còn chỉ là một phần của kinh tế tầm thấp mà đã trở thành yếu tố then chốt trong năng lực phòng vệ hiện đại. Ông nghĩ sao về hướng đi này?
Tại các triển lãm quốc phòng gần đây, sản phẩm vũ khí truyền thống như súng ống không còn là trọng tâm nữa, thay vào đó UAV trinh sát, UAV cảm tử, UAV tàng hình, các hệ thống chống radar… lại nhận được sự quan tâm rất lớn.
UAV về bản chất là một nền tảng mang phụ tải (payload), nên khi đã làm chủ được công nghệ thì mang gì là do mình quyết định: có thể là camera, radar, cảm biến, hoặc các thiết bị khác tùy theo mục đích sử dụng.
Tuy nhiên, để bứt tốc nhanh cũng không đơn giản, vì còn nhiều hạn chế về công nghệ, vật liệu, nhân lực, do đó, rất cần một cú hích từ chính sách cho thị trường.
Cụ thể đó là những chính sách nào, thưa ông?
Theo tôi, thứ nhất, cần một khung chính sách rõ ràng, ổn định và có khả năng dự báo. Doanh nghiệp chỉ có thể đầu tư dài hạn khi biết sân chơi sẽ vận hành như thế nào, quy trình thử nghiệm, cấp phép, khai thác và thương mại hóa ra sao. Một lĩnh vực mới mà quy định còn phân tán hoặc thay đổi khó lường thì rất khó để hình thành đầu tư lớn.
Thứ hai, cần cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cho các công nghệ và mô hình khai thác mới. UAV không thể phát triển nếu doanh nghiệp chỉ nghiên cứu trong phòng lab mà không có điều kiện bay thử, kiểm chứng, tích hợp và đánh giá theo kịch bản thực tế. Cần có không gian thử nghiệm, cơ chế sandbox và hành lang pháp lý đủ linh hoạt để doanh nghiệp đổi mới nhưng vẫn bảo đảm an toàn và quản lý nhà nước.
Thứ ba, cần thị trường dẫn dắt ban đầu. Với những công nghệ chiến lược, thị trường ban đầu rất quan trọng. Nếu có những chương trình đặt hàng, thử nghiệm hoặc ưu tiên sử dụng sản phẩm trong nước ở các bài toán phù hợp, doanh nghiệp sẽ có cơ hội hoàn thiện công nghệ, nâng chất lượng và hình thành năng lực cạnh tranh thực sự.
Thứ tư, phát triển hệ sinh thái công nghiệp hỗ trợ và nguồn nhân lực. Làm UAV không chỉ cần kỹ sư hàng không, mà còn cần cơ khí chính xác, điện tử, điều khiển, phần mềm, dữ liệu, vật liệu, sản xuất thử nghiệm, kiểm định và dịch vụ sau bán hàng. Thực tế từ HTI, thời gian tới, nhu cầu nhân lực của chúng tôi sẽ rất lớn. Hiện nay, việc tuyển kỹ sư UAV không hề dễ, phần lớn vẫn phải tự đào tạo, tự nghiên cứu vì chưa có nhiều chương trình đào tạo bài bản.
Thứ năm, nên nhìn UAV không chỉ như một sản phẩm công nghệ, mà như một ngành kinh tế mới. Khi tiếp cận như vậy, chúng ta sẽ không chỉ nói về chiếc máy bay, mà sẽ nói về chuỗi giá trị, về dữ liệu, dịch vụ, hạ tầng và năng lực công nghiệp quốc gia. Nếu có cách tiếp cận đó, UAV hoàn toàn có thể trở thành một lĩnh vực đóng góp thực chất cho tăng trưởng trong giai đoạn tới.
Trong số 5 chính sách mà ông kiến nghị trên, nếu được chọn chính sách cần kíp và có khả năng lan tỏa, tác động tức thì đến các doanh nghiệp UAV của Việt Nam, trong đó có HTI, theo ông là gì?
Với doanh nghiệp, cơ chế đặt hàng sản xuất từ sớm có ý nghĩa rất quan trọng. Tuy nhiên, trước mắt, cấp thiết hơn có lẽ là sớm hình thành các khu vực thử nghiệm bay cho UAV. Câu chuyện này đã được nhắc đến nhiều, nhưng đến nay vẫn chưa có quy hoạch cụ thể. Thực tế, nhiều khi chúng tôi phải di chuyển rất xa mới có thể tổ chức bay thử, gây ra không ít khó khăn trong quá trình nghiên cứu và phát triển.
Ngoài ra, cũng cần có chính sách hỗ trợ đào tạo từ các trường, các viện để bổ sung nguồn nhân lực cho ngành. Chúng ta đang nhắc đến động lực tăng trưởng từ kinh tế tầm thấp, nhưng lực lượng kỹ sư, chuyên gia cho lĩnh vực này vẫn còn thiếu. Nếu lĩnh vực này phát triển quá nhanh mà lại không có đủ nhân lực thì cũng khó triển khai.
Tóm lại, đây là thời điểm doanh nghiệp công nghệ rất cần được chính sách “nuôi dưỡng”. Nghị quyết số 57-NQ/TW là sự động viên rất lớn đối HTI Group nói riêng và với các doanh nghiệp công nghệ Việt Nam nói chung.
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 18 +19-2026 phát hành ngày 11/05/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://vneconomy.vn/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-1819-2026.htm
Nhằm định hình tầm nhìn và giải pháp cho giai đoạn phát triển đầy kỳ vọng này, tại Diễn đàn “Nhịp cầu phát triển Việt Nam 2026: Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và kinh tế trong nước hợp lực tạo sức bật tăng trưởng bền vững trong giai đoạn mới”, các nhà quản lý, chuyên gia và đại diện các hiệp hội doanh nghiệp quốc tế cho rằng để khơi thông dòng vốn FDI thế hệ mới, Việt Nam cần giải quyết rốt ráo các “điểm nghẽn” về thể chế vốn, hạ tầng năng lượng...
Trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng, việc tăng cường kết nối và hợp lực giữa khu vực đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp trong nước trở thành yêu cầu quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng. Không chỉ dừng lại ở thu hút vốn, mục tiêu đặt ra là hình thành các liên kết thực chất, qua đó nâng cao năng lực nội tại của nền kinh tế và hướng tới tăng trưởng cao, bền vững trong giai đoạn tới.
Giữa bối cảnh cạnh tranh thu hút đầu tư ngày càng khốc liệt và môi trường tài chính toàn cầu biến động, Việt Nam vẫn là điểm đến hấp dẫn của dòng vốn quốc tế. Tuy nhiên, bài toán đặt ra trong giai đoạn mới không còn đơn thuần là tăng quy mô FDI, mà là nâng chất lượng dòng vốn, tăng cường liên kết với doanh nghiệp nội địa và mở rộng khả năng kết nối với các nguồn lực tài chính toàn cầu. Trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam / VnEconomy, ông Đinh Đức Quang, Giám đốc Khối Kinh doanh tiền tệ, Ngân hàng UOB Việt Nam, cho rằng Việt Nam đang sở hữu nhiều lợi thế trong thu hút FDI. Tuy nhiên, để duy trì sức hấp dẫn trong giai đoạn tới, trọng tâm không còn chỉ là gia tăng quy mô vốn đầu tư mà cần hướng tới nâng cao chất lượng dòng vốn, tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước, đồng thời mở rộng khả năng kết nối với các nguồn vốn quốc tế.
Không còn chỉ được nhìn nhận là thị trường lao động chi phí thấp, Việt Nam đang trở thành đối tác chiến lược trong chuỗi đổi mới công nghệ của nhiều tập đoàn toàn cầu. Với Qualcomm, Việt Nam hiện giữ vị trí trung tâm số 1 tại Đông Nam Á. Việc hãng khánh thành Trung tâm R&D tại Hà Nội ngày 12/5/2026 được xem là bước đi chiến lược mới, tập trung vào các lĩnh vực AI, bán dẫn và xe tự hành, đồng thời mở ra thêm nhiều cơ hội cho nguồn nhân lực công nghệ trong nước. Trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam / VnEconomy, TS. Trần Mỹ An (An Mei Chen), Phó Chủ tịch Kỹ thuật tại Bộ phận Nghiên cứu AI thuộc Tập đoàn Qualcomm cho biết tập đoàn đang hướng tới xây dựng một trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D) đạt tiêu chuẩn toàn cầu ngay tại Việt Nam. Bên cạnh mục tiêu thúc đẩy đổi mới sáng tạo, Trung tâm R&D tại Hà Nội sẽ đóng vai trò hạt nhân trong việc nâng tầm và củng cố hệ sinh thái công nghệ Việt Nam.
Tạp chí Kinh tế Việt Nam xin trích lược ý kiến phát biểu của TS.Nguyễn Đức Hiển, Phó Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương tại Diễn đàn “Nhịp cầu phát triển Việt Nam 2026: Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và kinh tế trong nước hợp lực tạo sức bật tăng trưởng bền vững trong giai đoạn mới”, dưới sự chỉ đạo nội dung của Ban Chính sách, chiến lược Trung ương, Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam và Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, chủ trì tổ chức mới đây.
Trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng, việc tăng cường kết nối và hợp lực giữa khu vực đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp trong nước trở thành yêu cầu quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng. Không chỉ dừng lại ở thu hút vốn, mục tiêu đặt ra là hình thành các liên kết thực chất, qua đó nâng cao năng lực nội tại của nền kinh tế và hướng tới tăng trưởng cao, bền vững trong giai đoạn tới.
Ngày 21/5, Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam (VEA), Tạp chí VnEconomy và Viện Nghiên cứu Công nghệ vì Cộng đồng (TFGI) phối hợp cùng Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược (IPSS), tổ chức hội thảo “Di chuyển, Trí tuệ nhân tạo (AI) và Xã hội: Củng cố tương lai lĩnh vực giao thông vận tải tại Việt Nam”.