STheo dữ liệu từ tổ chức United Against Nuclear Iran (UANI), hiện có khoảng 39 tàu chở dầu hoặc sản phẩm hóa dầu của Iran ở Vùng Vịnh, tăng so với 29 tàu trước khi lệnh phong tỏa của Mỹ có hiệu lực vào ngày 13/4. Số tàu tăng thêm chủ yếu đang neo đậu gần đảo Kharg - trung tâm xuất khẩu dầu quan trọng của Iran.
Financial Times và UANI cũng xác định thêm 13 tàu được cho là tàu chở dầu đang neo ngoài khơi cảng Chabahar của Iran, thuộc Vịnh Oman, ở phía Đông eo biển Hormuz. Vị trí này nằm ngay bên trong ranh giới phong tỏa mà Hải quân Mỹ đặt ra trên lý thuyết.
Việc ngày càng nhiều tàu chở dầu Iran phải neo đậu cho thấy lệnh phong tỏa của Mỹ dường như đang tạo sức ép rõ rệt lên hoạt động xuất khẩu dầu của Tehran. Theo mục tiêu được Washington công bố, Hải quân Mỹ có thể “tiếp cận, lên tàu, khám xét và tạm giữ” các tàu Iran, hoặc những tàu bị nghi chở hàng của Iran, nhằm cắt giảm nguồn thu dầu mỏ của nước này.
Lệnh phong tỏa trên là bước đi mới nhất của Nhà Trắng trong chính sách liên tục thay đổi đối với dầu thô Iran, trong bối cảnh cuộc xung đột giữa Mỹ-Israel và Iran đã kéo dài sang tuần thứ 11.
Hồi tháng 3, Mỹ cấp tạm thời miễn trừ trừng phạt trong 30 ngày đối với lượng dầu thô Iran đã rời cảng và đang được vận chuyển trên biển, do lo ngại giá dầu toàn cầu tăng mạnh. Trước các cuộc không kích của Mỹ và Israel, Iran xuất khẩu khoảng 40-60 triệu thùng dầu mỗi tháng, tương đương khoảng 2% nguồn cung toàn cầu. Lượng dầu này được vận chuyển bằng đội tàu chở dầu cũ, phần lớn nằm trong diện trừng phạt của các chính phủ phương Tây, nhưng vẫn phục vụ các nhà máy lọc dầu tại châu Á.
Tuy nhiên, khi Iran chưa có tín hiệu mở lại eo biển Hormuz và Tehran vẫn thu lợi lớn từ hoạt động bán dầu, Mỹ đã đổi hướng chính sách. Từ tháng 4, Washington quyết định phong tỏa các cảng của Iran và tạm giữ những tàu tham gia vận chuyển dầu cùng các sản phẩm liên quan của nước này ra thị trường toàn cầu.
Theo Bộ Tư lệnh Trung tâm Mỹ (CENTCOM), từ khi lệnh phong tỏa được triển khai, lực lượng Hải quân Mỹ đã buộc 72 tàu quay lại các cảng của Iran và khiến 4 tàu khác không thể tiếp tục hành trình. Biện pháp này khiến phần lớn dầu thô Iran không thể rời khu vực, buộc Tehran phải đưa các tàu chở dầu cũ trở lại hoạt động để làm kho chứa nổi trên biển.
Chẳng hạn, một siêu tàu dầu 30 năm tuổi, theo các nhà phân tích đã không hoạt động hơn 2 năm, bắt đầu phát tín hiệu định vị tại Vùng Vịnh vào cuối tháng 4.
Bà Yui Torikata, nhà phân tích tại công ty dữ liệu Kpler, cho biết lượng dầu thô Iran được chứa trên các tàu chở dầu ở Vùng Vịnh hiện ở “mức cao nhất kể từ khi xung đột bắt đầu” và đã duy trì ở mức cao từ đầu tháng 5.
Theo dữ liệu từ Kpler, hiện có khoảng 42 triệu thùng dầu thô trên các tàu chở dầu Iran ở Trung Đông, tăng 65% kể từ khi xung đột bắt đầu.
Ông Antoine Halff, nhà phân tích trưởng tại công ty dữ liệu năng lượng Kayrros, cho rằng Iran đang cố gắng “kéo dài thời gian” để tránh phải ngừng sản xuất dầu.
Dữ liệu của Kayrros cho thấy lượng dầu lưu kho trên bờ của Iran đã tăng khoảng 10 triệu thùng, khiến các kho chứa trên bờ hiện được lấp đầy khoảng 64% tổng sức chứa. Theo ông Halff, phần công suất còn lại giúp Iran có thêm “vài tuần” để duy trì sản xuất trước khi buộc phải cắt giảm sản lượng.
Theo ước tính của Kpler, Iran vẫn còn một số tàu chở dầu rỗng trong khu vực bị Mỹ phong tỏa. Nếu cần, Tehran có thể dùng các tàu này làm kho chứa nổi trên biển, với sức chứa bổ sung khoảng 24 triệu thùng dầu.
Số tàu chở dầu neo đậu tăng mạnh nhất quanh đảo Kharg, trung tâm xuất khẩu dầu chính của Iran ở phía Bắc Vùng Vịnh. Theo phân tích của Financial Times dựa trên dữ liệu từ vệ tinh Sentinel-1 của Cơ quan Vũ trụ châu Âu (ESA), hiện có 20 tàu neo tại khu vực này, tăng mạnh so với 6 tàu một tháng trước.
Dữ liệu hàng hải thông thường không ghi nhận đầy đủ mức tăng này, do các tàu không phát tín hiệu định vị cho phương tiện xung quanh. Vì vậy, Financial Times phải dựa vào ảnh vệ tinh Sentinel-1, hệ thống sử dụng radar để quét bề mặt Trái Đất và thu lại tín hiệu phản hồi.
ESA cũng cung cấp hình ảnh được dùng để đếm số tàu gần cảng Chabahar. Đây hiện là một trong số ít nguồn dữ liệu vệ tinh công khai còn bao phủ khu vực này, trong khi nhiều nhà cung cấp vệ tinh thương mại của Mỹ - nhóm giữ vai trò lớn trong lĩnh vực ảnh vệ tinh - đã hạn chế quyền tiếp cận hình ảnh về khu vực theo yêu cầu của Chính phủ Mỹ.
Theo công ty phân tích hàng hải Windward, không có tàu chở dầu nào nhận dầu tại đảo Kharg trong giai đoạn từ ngày 6-14/5. Ngày 6/5, hình ảnh vệ tinh phát hiện một vệt dầu lớn trên mặt biển gần cảng xuất khẩu này. Các hình ảnh sau đó cho thấy vệt dầu đã tách thành nhiều mảng nhỏ và trôi dạt về phía Nam và Tây Nam đảo.
Dường như chỉ một số ít tàu vượt qua được khu vực phong tỏa của Mỹ. Một trường hợp là tàu chở dầu Huge treo cờ Iran. Theo dữ liệu theo dõi tàu của UANI, tàu này nhận dầu tại Kharg vào ngày 31/3 và rời Vịnh Oman vào ngày 14/4.
Để tránh Hải quân Mỹ, tàu Huge được cho là đã chọn tuyến đường vòng dài hơn và kém hiệu quả hơn, đi qua eo biển Lombok của Indonesia rồi tiếp tục hướng về Trung Quốc. Thông thường, các tàu chở dầu Iran sẽ đi qua eo biển Malacca tới một khu vực neo đậu ngoài khơi Malaysia, nơi dầu được chuyển từ tàu Iran sang tàu chở dầu Trung Quốc.
Xuất khẩu của Nhật Bản tăng trưởng mạnh trong tháng 4 vừa qua, đánh dấu tháng tăng thứ 8 liên tiếp và vượt kỳ vọng thị trường...
Bộ trưởng Bộ Tài chính Mỹ Scott Bessent cho biết chính quyền Tổng thống Donald Trump không có ý định vội gia hạn thỏa thuận mà theo dự kiến sẽ hết hạn vào tháng 11 năm nay...
Doanh nghiệp châu Âu và Mỹ đang đẩy nhanh chiến lược tái công nghiệp hóa nhằm giảm rủi ro chuỗi cung ứng. Tuy nhiên, xu hướng này không đồng nghĩa rời khỏi Trung Quốc hoàn toàn, mà chủ yếu là tái cân bằng mạng lưới sản xuất theo hướng chọn lọc và ít phụ thuộc hơn...
Theo dữ liệu vận tải biển từ nhà cung cấp dữ liệu tài chính LSEG và công ty phân tích hàng hóa Kpler, 3 siêu tàu dầu chở tổng cộng 6 triệu thùng dầu thô Trung Đông đã đi qua eo biển Hormuz vào thứ Tư (20/5), sau hơn 2 tháng mắc kẹt trong vùng Vịnh...
Nguồn tin là một số nhà giao dịch tiết lộ rằng trong khoảng một tuần rưỡi trở lại đây, mỗi ngày RBI đều chi khoảng 1 tỷ USD để hỗ trợ tỷ giá đồng nội tệ...
Không còn chỉ được nhìn nhận là thị trường lao động chi phí thấp, Việt Nam đang trở thành đối tác chiến lược trong chuỗi đổi mới công nghệ của nhiều tập đoàn toàn cầu. Với Qualcomm, Việt Nam hiện giữ vị trí trung tâm số 1 tại Đông Nam Á. Việc hãng khánh thành Trung tâm R&D tại Hà Nội ngày 12/5/2026 được xem là bước đi chiến lược mới, tập trung vào các lĩnh vực AI, bán dẫn và xe tự hành, đồng thời mở ra thêm nhiều cơ hội cho nguồn nhân lực công nghệ trong nước. Trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam / VnEconomy, TS. Trần Mỹ An (An Mei Chen), Phó Chủ tịch Kỹ thuật tại Bộ phận Nghiên cứu AI thuộc Tập đoàn Qualcomm cho biết tập đoàn đang hướng tới xây dựng một trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D) đạt tiêu chuẩn toàn cầu ngay tại Việt Nam. Bên cạnh mục tiêu thúc đẩy đổi mới sáng tạo, Trung tâm R&D tại Hà Nội sẽ đóng vai trò hạt nhân trong việc nâng tầm và củng cố hệ sinh thái công nghệ Việt Nam.
Không còn chỉ được nhìn nhận là thị trường lao động chi phí thấp, Việt Nam đang trở thành đối tác chiến lược trong chuỗi đổi mới công nghệ của nhiều tập đoàn toàn cầu. Với Qualcomm, Việt Nam hiện giữ vị trí trung tâm số 1 tại Đông Nam Á. Việc hãng khánh thành Trung tâm R&D tại Hà Nội ngày 12/5/2026 được xem là bước đi chiến lược mới, tập trung vào các lĩnh vực AI, bán dẫn và xe tự hành, đồng thời mở ra thêm nhiều cơ hội cho nguồn nhân lực công nghệ trong nước. Trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam / VnEconomy, TS. Trần Mỹ An (An Mei Chen), Phó Chủ tịch Kỹ thuật tại Bộ phận Nghiên cứu AI thuộc Tập đoàn Qualcomm cho biết tập đoàn đang hướng tới xây dựng một trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D) đạt tiêu chuẩn toàn cầu ngay tại Việt Nam. Bên cạnh mục tiêu thúc đẩy đổi mới sáng tạo, Trung tâm R&D tại Hà Nội sẽ đóng vai trò hạt nhân trong việc nâng tầm và củng cố hệ sinh thái công nghệ Việt Nam.