Lúa gạo nuôi hơn một nửa thế giới nhưng phát thải khí nhà kính đang tăng mạnh
TTrọng Hoàng
Chọn cỡ chữ
Lúa gạo hiện đang cung cấp lương thực cho hơn một nửa dân số thế giới. Tuy nhiên, nghiên cứu mới cho thấy lượng phát thải khí nhà kính từ các ruộng lúa toàn cầu đã gần tăng gấp đôi kể từ thập niên 1960, biến sản xuất lúa trở thành nguồn phát thải lớn nhất trong nông nghiệp ngoài lĩnh vực chăn nuôi…
Ruộng lúa tại Nhật Bản. Ảnh: iStock/crossover-japan.
Từ những thửa ruộng bậc thang ở Đông
Nam Á đến các cánh đồng được tưới tiêu quy mô lớn tại Trung Quốc và Ấn Độ, cây
lúa từ lâu đã đóng vai trò trung tâm trong hệ thống lương thực thế giới. Nhưng đằng sau vai trò bảo đảm an ninh lương thực cho hàng tỷ người là một
thực tế ít được chú ý hơn: các ruộng lúa ngập nước là nguồn phát thải đáng
kể các loại khí gây hiệu ứng nhà kính.
Theo nghiên cứu mới do nhóm các nhà
khoa học môi trường và nông nghiệp quốc tế thực hiện, lượng phát thải khí nhà
kính từ hoạt động trồng lúa trên toàn cầu đã gần như tăng gấp đôi kể từ thập
niên 1960. Trong giai đoạn những năm 2010, các ruộng lúa phát thải trung bình
khoảng 1,1 tỷ tấn CO₂ tương đương mỗi năm, tương đương lượng khí thải hàng năm
của khoảng 239 triệu ô tô.
Kết quả này cho thấy sản xuất lúa
hiện là nguồn phát thải lớn nhất trong nông nghiệp nếu không tính lĩnh vực chăn
nuôi. Trong bối cảnh dân số thế giới tiếp tục tăng và nhu cầu tiêu thụ gạo vẫn
được dự báo gia tăng trong nhiều thập kỷ tới, áp lực môi trường từ ngành lúa
gạo cũng sẽ ngày càng lớn hơn.
MỞ
RỘNG DIỆN TÍCH VÀ THÂM CANH CANH TÁC ĐANG THÚC ĐẨY PHÁT THẢI TĂNG MẠNH
Theo nghiên cứu, sự gia tăng phát
thải từ ruộng lúa trong hơn 60 năm qua xuất phát từ hai nguyên nhân chính: diện
tích trồng lúa mở rộng nhanh và các hoạt động canh tác ngày càng thâm canh hơn.
Hơn một nửa mức tăng phát thải toàncầu có liên quan trực tiếp đến việc mở rộng diện tích canh tác. Tại châu Phi,
diện tích trồng lúa đã tăng gần gấp đôi kể từ những năm 1960, kéo theo lượng
phát thải methane trong khu vực cũng tăng khoảng hai lần.
Song song với việc mở rộng diện
tích, nông dân ở nhiều quốc gia cũng tăng cường sử dụng phân bón, phân chuồng,
rơm rạ và các vật liệu hữu cơ khác nhằm nâng cao độ phì nhiêu của đất. Những
giống lúa năng suất cao được đưa vào sản xuất rộng rãi hơn, mật độ gieo cấy
tăng lên và các hệ thống tưới tiêu được cải thiện để tối đa hóa sản lượng.
Những thay đổi này góp phần quan
trọng giúp đáp ứng nhu cầu lương thực của dân số toàn cầu đang tăng nhanh. Tuy
nhiên, mặt trái là lượng khí nhà kính phát sinh từ các cánh đồng lúa cũng tăng
theo.
Một trong những phát hiện đáng chú ý
của nghiên cứu là vai trò của việc quản lý rơm rạ sau thu hoạch. Tại nhiều vùng
trồng lúa, nông dân thường để lại phần thân cây lúa trên đồng rồi cày vùi xuống
đất nhằm cải thiện độ màu mỡ của ruộng. Theo các nhà khoa học, thực hành này
chiếm khoảng 18% mức gia tăng phát thải ròng từ ngành lúa gạo kể từ thập niên
1960.
Tại nhiều vùng trồng lúa, nông dân thường để lại phần thân cây lúa trên đồng rồi cày vùi xuống đất nhằm cải thiện độ màu mỡ của ruộng. Ảnh: Thu Quỳnh
Nguyên nhân nằm ở chỗ lượng chất hữu
cơ bổ sung vào đất trở thành nguồn thức ăn dồi dào cho các vi sinh vật sống
trong môi trường ngập nước. Khi phân hủy các chất hữu cơ này trong điều kiện
thiếu oxy, vi sinh vật tạo ra lượng lớn khí methane - một loại khí nhà kính có
khả năng giữ nhiệt mạnh hơn nhiều lần so với CO₂.
Không chỉ các hoạt động sản xuất,
biến đổi khí hậu cũng đang góp phần làm gia tăng phát thải từ ruộng lúa. Nhiệt
độ toàn cầu tăng lên thúc đẩy hoạt động của các vi sinh vật trong đất, qua đó
làm tăng tốc độ sản sinh methane và các loại khí khác.
Việc sử dụng phân bón hóa học cũng
là một nguồn phát thải đáng kể. Nghiên cứu cho thấy lượng phân đạm tổng hợp
được sử dụng trên toàn cầu đã tăng khoảng 76% kể từ năm 2000. Sự gia tăng này
kéo theo lượng phát thải nitrous oxide (N₂O) - loại khí nhà kính có tiềm năng
làm nóng lên toàn cầu mạnh gấp hàng trăm lần so với CO₂ trong chu kỳ 100 năm.
Theo nhóm nghiên cứu, phát thải
nitrous oxide liên quan đến hoạt động của con người hiện chiếm khoảng 9% mức
gia tăng phát thải ròng toàn cầu.
Các phương thức tưới tiêu cũng có ảnh
hưởng đáng kể đến lượng khí thải từ sản xuất lúa.
Trong nhiều thập kỷ, các ruộng lúa
tại nhiều quốc gia được duy trì ngập nước liên tục trong suốt mùa vụ. Điều này
tạo môi trường lý tưởng cho các vi sinh vật yếm khí phát triển và sản sinh
methane.
Tuy nhiên, khoảng 20 năm trở lại
đây, ngày càng nhiều nông dân chuyển sang áp dụng phương thức tưới ngập xen kẽ
khô. Theo đó, nước được tháo khỏi ruộng trong những khoảng thời gian nhất định
trước khi tiếp tục tưới trở lại.
Biện pháp này đã giúp giảm đáng kể lượng
methane phát sinh. Dù vậy, nghiên cứu cho thấy nó cũng có thể làm tăng nhẹ
lượng nitrous oxide do quá trình chuyển đổi liên tục giữa điều kiện đất khô và
đất ướt kích thích các phản ứng chuyển hóa nitơ trong đất.
ĐO
LƯỜNG TÁC ĐỘNG KHÍ HẬU CỦA HẠT GẠO KHÔNG ĐƠN GIẢN NHƯ NHIỀU NGƯỜI VẪN NGHĨ
Theo các tác giả, việc đánh giá đầy
đủ tác động khí hậu của ngành lúa gạo phức tạp hơn nhiều so với chỉ đo lường
riêng lượng methane hay nitrous oxide phát thải từ ruộng lúa.
Trong thực tế, các hệ thống canh tác
lúa vừa là nguồn phát thải khí nhà kính, vừa là nơi hấp thụ carbon từ khí
quyển.
Trong quá trình sinh trưởng, cây lúa
hấp thụ CO₂ thông qua quang hợp. Một phần carbon này được tích lũy trong thân
cây, rễ và đất. Tuy nhiên, giữa các mùa vụ, đất canh tác cũng mất đi một lượng
carbon đáng kể thông qua các quá trình sinh học và hóa học.
Để đánh giá chính xác "chi phí khí hậu" của sản xuất lúa, cần phải tính toán đồng thời nhiều loại khí nhà kính khác nhau cũng như những thay đổi về lượng carbon tích trữ trong đất.
Đây cũng là lý do nhóm nghiên cứu
kết hợp nhiều phương pháp phân tích khác nhau thay vì chỉ dựa vào dữ liệu quan
trắc truyền thống.
Thứ nhất, các nhà khoa học sử dụng mô hình hệ sinh thái trên máy tính
để mô phỏng quá trình sinh trưởng của cây lúa, điều kiện thủy văn, nhiệt độ đất
và các phản ứng sinh hóa diễn ra trong hệ thống canh tác.
Thông qua mô hình này, họ có thể
đồng thời ước tính lượng methane, nitrous oxide và biến động carbon trong đất
trên quy mô toàn cầu.
Thứ hai, nhóm nghiên cứu ứng dụng công nghệ học máy dựa trên trí
tuệ nhân tạo nhằm khắc phục tình trạng thiếu dữ liệu tại nhiều khu vực sản xuất
lúa trên thế giới. Công nghệ này giúp cải thiện độ chính xác của các ước tính
tại những vùng có ít điểm quan trắc thực địa.
Thứ ba, các nhà khoa học thực hiện phân tích tổng hợp từ hơn 1.200
địa điểm nghiên cứu thực địa trên toàn cầu. Đây là nguồn dữ liệu quan trọng
giúp đánh giá trực tiếp tác động của các phương thức canh tác, chế độ tưới
tiêu, sử dụng phân bón và quản lý phụ phẩm cây trồng đối với phát thải khí nhà
kính.
Việc kết hợp đồng thời ba phương
pháp cho phép nhóm nghiên cứu xây dựng bức tranh tương đối toàn diện về phát
thải từ sản xuất lúa trong giai đoạn 1961-2020. Quan trọng hơn, họ cũng xác
định được những yếu tố chính thúc đẩy phát thải và đánh giá hiệu quả của các
giải pháp giảm thiểu trong điều kiện khí hậu tương lai.
GIẢM
PHÁT THẢI MÀ KHÔNG GIẢM NĂNG SUẤT: CON ĐƯỜNG KHÔNG DỄ DÀNG
Một trong những kết luận quan trọng
nhất của nghiên cứu là thế giới hoàn toàn có thể giảm phát thải từ sản xuất lúa
mà vẫn duy trì sản lượng.
Theo tính toán của nhóm nghiên cứu,
việc kết hợp nhiều giải pháp như tối ưu hóa sử dụng phân bón, giảm lượng phụ
phẩm hữu cơ đưa trở lại đồng ruộng, áp dụng tưới ngập xen kẽ khô và hạn chế cày
xới đất có thể giúp giảm khoảng 10% lượng phát thải khí nhà kính toàn cầu từ
ngành lúa gạo vào giữa thế kỷ này.
Các nhà nghiên cứu cho rằng vẫn có những giải pháp giúp giảm phát thải mà không ảnh hưởng đáng kể đến năng suất. Nếu toàn bộ nông dân trên thế giới áp dụng các biện pháp "nông nghiệp thông minh với khí hậu" hiệu quả nhất hiện nay, lượng phát thải từ ngành lúa gạo có thể giảm khoảng 10% vào giữa thế kỷ này. Dù vậy, con số này vẫn còn khá khiêm tốn so với yêu cầu cắt giảm phát thải để hạn chế biến đổi khí hậu.
Tuy nhiên, nghiên cứu cũng nêu rõ: không có giải pháp nào phù hợp cho mọi khu vực. Một phát hiện đáng chú ý
là việc thay thế hoàn toàn phân bón hóa học bằng vật liệu hữu cơ không phải lúc
nào cũng mang lại lợi ích về khí hậu.
Mặc dù đây là phương thức được đánh
giá cao trong nông nghiệp hữu cơ, nhưng nếu sử dụng quá nhiều rơm rạ hoặc phân
hữu cơ trong điều kiện ruộng ngập nước, lượng methane phát sinh có thể tăng lên
đáng kể. Các nhà khoa học cho rằng duy trì lượng phụ phẩm ở mức hợp lý sẽ giúp
cải thiện độ phì nhiêu của đất mà không làm phát thải tăng quá mức.
Một giải pháp khác đang nhận được
nhiều sự quan tâm là chuyển đổi một phần phụ phẩm nông nghiệp thành than sinh
học (biochar). Quá trình này được thực hiện bằng cách đốt sinh khối trong điều
kiện thiếu oxy trước khi đưa trở lại đồng ruộng. Biochar có khả năng giữ carbon
trong đất trong thời gian dài hơn, đồng thời giúp giảm lượng methane phát sinh
từ môi trường ngập nước.
Quản lý nước tiếp tục được xem là
một trong những công cụ giảm phát thải hiệu quả nhất hiện nay. Việc tháo nước
định kỳ khỏi ruộng lúa có thể làm giảm đáng kể lượng methane, đặc biệt tại
những khu vực có hệ thống thủy lợi phát triển ở châu Á.
Trong khi đó, việc sử dụng phân đạm
hợp lý cũng mang lại nhiều lợi ích cùng lúc. Giảm bón thừa không chỉ giúp cắt
giảm nitrous oxide mà còn hạn chế ô nhiễm nguồn nước và giảm chi phí sản xuất
cho nông dân.
Đối với biện pháp giảm cày xới, hiệu
quả lại phụ thuộc rất lớn vào điều kiện địa phương.
Tại các vùng ôn đới như phần lớn
nước Mỹ và một số khu vực ở Trung Quốc, nhiệt độ thấp giúp hạn chế sự hình
thành methane. Trong trường hợp này, lợi ích từ việc giữ lại carbon trong đất
có thể lớn hơn rủi ro phát thải.
Ngược lại, ở các vùng khí hậu nóng
và thường xuyên ngập nước, điều kiện thiếu oxy có thể thúc đẩy hoạt động của vi
sinh vật, làm gia tăng phát thải methane và đẩy nhanh quá trình mất carbon
trong đất.
Các nhà nghiên cứu nhấn mạnh rằng không tồn tại một công thức chung cho mọi quốc gia hay mọi hệ thống sản xuất lúa. Mỗi khu vực cần xác định tổ hợp giải pháp phù hợp nhất dựa trên điều kiện khí hậu, nguồn nước, đặc điểm đất đai và trình độ canh tác.
Kết luận cuối cùng của
nghiên cứu vừa mang lại hy vọng, vừa đặt ra nhiều suy ngẫm. Ngay cả khi toàn bộ
nông dân trên thế giới áp dụng những biện pháp "nông nghiệp thông minh với
khí hậu" tốt nhất hiện nay, lượng phát thải từ ngành lúa gạo cũng chỉ có
thể giảm khoảng 10%.
Điều đó cho thấy tiềm năng giảm phát
thải từ các giải pháp hiện có vẫn còn hạn chế. Để tiến xa hơn, thế giới sẽ cần
những đột phá mới về công nghệ, giống cây trồng và phương thức quản lý đồng
ruộng nhằm giảm mạnh phát thải mà không ảnh hưởng đến nguồn lương thực của hàng
tỷ người.
Sức ép từ thị trường và xu hướng tiêu dùng mới đang buộc nhiều doanh nghiệp khởi nghiệp phải tìm kiếm những động lực phát triển bền vững hơn. Trong bối cảnh đó, đổi mới sáng tạo, R&D và khai thác lợi thế từ nguồn lực bản địa đang nổi lên như những hướng đi giàu tiềm năng...
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng đề nghị các bộ, ngành, địa phương tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm, chủ trương của Đảng “phát triển nhanh nhưng phải bền vững”; “không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần”; “bảo vệ môi trường phải được đặt ở vị trí trung tâm trong quá trình hoạch định chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và phát triển kinh tế xã hội của từng ngành, từng địa phương”.
Dựa trên hướng tiếp cận mới, các nhiệm vụ giải pháp phải có sự đột phá nhưng vẫn có tính kế thừa, thúc đẩy mạnh mẽ sự chuyển biến về nhận thức, hành động, kiến tạo thể chế, chính sách cho phát triển nhanh và bền vững kinh tế biển. Chuyển mạnh từ tư duy nặng về bảo vệ, bảo tồn sang phát triển nhanh và bền vững, chuyển từ phát triển kinh tế ven biển sang phát triển quốc gia hướng biển...
Một thay đổi lớn trong Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo sửa đổi là hoàn thiện chế định giao, cho thuê và đăng ký sử dụng khu vực biển. Dự thảo luật lần đầu tiên nghiên cứu bổ sung các cơ chế như đấu giá quyền sử dụng khu vực biển, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng khu vực biển và hồ sơ hải chính...
Điện sinh khối từ bã mía hiện chiếm hơn 95% tổng công suất điện sinh khối của Việt Nam, song đang gặp nhiều rào cản về cơ chế giá và chính sách phát triển. Mức giá mua điện thấp, quy định phân loại dự án chưa phù hợp và những vướng mắc trong cơ chế thanh toán khiến nguồn năng lượng tái tạo này chưa phát huy hết tiềm năng...
Bức tranh kinh tế của Việt Nam trong tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều chỉ số tăng trưởng tích cực. Điển hình như chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 5 tăng 8,8% so với cùng kỳ; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 11,8%....
Chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng mới, lấy phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính là quan điểm nhất quán hiện nay của Đảng và Nhà nước ta. Với đặc trưng là trung tâm cảng biển, công nghiệp... Hải Phòng có đầy đủ các điều kiện để trở thành địa phương đi đầu trong thí điểm các mô hình phát triển mới.
Chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng mới, lấy phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính là quan điểm nhất quán hiện nay của Đảng và Nhà nước ta. Với đặc trưng là trung tâm cảng biển, công nghiệp... Hải Phòng có đầy đủ các điều kiện để trở thành địa phương đi đầu trong thí điểm các mô hình phát triển mới.
Với phương châm Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Đột phá - Phát triển, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng xác định tư duy, tầm nhìn, những quyết sách chiến lược để chúng ta vững bước tiến...
Tổng số đơn vị bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI trong cả nước là 182. Số đơn vị bầu cử, danh sách các đơn vị bầu cử và số lượng đại biểu Quốc hội được bầu ở mỗi đơn vị bầu cử của các tỉnh, thành phố...
VnEconomy cập nhật giá vàng trong nước & thế giới hôm nay: SJC, 9999, giá vàng USD/oz, biến động giá vàng tăng, giảm - phân tích, dự báo & dữ liệu lịch sử.
Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...