Trong xu thế đó, các mô hình canh tác lúa chất lượng cao gắn với giảm phát thải khí nhà kính đang được triển khai tại nhiều địa phương trong vùng. Những kết quả bước đầu cho thấy đây không chỉ là giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu mà còn mở ra hướng đi mới nhằm nâng cao giá trị hạt gạo và phát huy thế mạnh nông nghiệp của đồng bằng sông Cửu Long.
Thời gian gần đây, nhiều địa phương trong vùng đã triển khai các mô hình sản xuất lúa theo hướng giảm phát thải khí nhà kính. Các mô hình tập trung áp dụng đồng bộ nhiều giải pháp kỹ thuật như giảm lượng giống gieo sạ, giảm phân bón và thuốc bảo vệ thực vật, quản lý nước tưới hợp lý và tăng cường cơ giới hóa trong sản xuất.
Thực tế cho thấy những mô hình này mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt cho nông dân. Theo phản ánh từ các mô hình sản xuất, chi phí canh tác có thể giảm khoảng 300.000 đồng mỗi công đất nhờ giảm lượng giống và phân bón sử dụng. Trong khi đó, năng suất vẫn đạt khoảng 6,5 tấn/ha, cao hơn so với một số mô hình sản xuất truyền thống. Lợi nhuận của nông dân vì vậy tăng thêm gần 9 triệu đồng/ha.
Từ những kết quả bước đầu, nhiều địa phương đang xây dựng kế hoạch mở rộng diện tích lúa phát thải thấp trong những năm tới.
Tại tỉnh Cà Mau, mô hình sản xuất lúa phát thải thấp đang được triển khai với quy mô ngày càng mở rộng. Trong vụ đông xuân gần đây, địa phương đã thực hiện 24 mô hình với tổng diện tích khoảng 1.400 ha. Kết quả cho thấy lợi nhuận của nông dân tham gia mô hình tăng từ 4 - 6 triệu đồng/ha nhờ giảm chi phí đầu vào và nâng cao hiệu quả quản lý đồng ruộng.
Các mô hình cũng cho thấy khả năng giảm đáng kể lượng phát thải khí nhà kính trong sản xuất lúa. Việc áp dụng các kỹ thuật như “1 phải, 5 giảm”, tưới ngập-khô xen kẽ và quản lý phụ phẩm nông nghiệp hợp lý giúp hạn chế phát sinh khí methane trong ruộng lúa. Đây được xem là một trong những giải pháp quan trọng để thực hiện mục tiêu giảm phát thải trong nông nghiệp.
Ngoài lợi ích về môi trường, mô hình còn giúp nâng cao chất lượng hạt gạo, giảm thất thoát sau thu hoạch và từng bước hình thành chuỗi giá trị bền vững cho ngành lúa gạo. Khi nông dân tham gia hợp tác xã và liên kết với doanh nghiệp trong khâu tiêu thụ, việc tiếp cận kỹ thuật mới và ổn định đầu ra cho sản phẩm cũng thuận lợi hơn.
Từ những kết quả bước đầu, nhiều địa phương đang xây dựng kế hoạch mở rộng diện tích lúa phát thải thấp trong những năm tới. Riêng tỉnh Cà Mau đặt mục tiêu đến năm 2030 phát triển khoảng 55.000 ha lúa phát thải thấp, góp phần thực hiện đề án phát triển bền vững một triệu hecta chuyên canh lúa chất lượng cao, phát thải thấp của vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Việc phát triển lúa phát thải thấp cũng gắn liền với chiến lược tái cơ cấu nông nghiệp của đồng bằng sông Cửu Long. Với diện tích gieo trồng khoảng 3,8 triệu ha mỗi năm và sản lượng lúa đạt khoảng 24- 25 triệu tấn, khu vực này hiện chiếm hơn một nửa sản lượng lúa của cả nước và đóng góp phần lớn khối lượng gạo xuất khẩu.
Tuy nhiên, ngành lúa gạo của vùng đang đối mặt với nhiều thách thức như chi phí sản xuất tăng, biến đổi khí hậu ngày càng nghiêm trọng và yêu cầu cao của các thị trường nhập khẩu về chất lượng, truy xuất nguồn gốc cũng như tiêu chuẩn môi trường. Trong bối cảnh đó, việc chuyển đổi sang mô hình sản xuất lúa chất lượng cao, phát thải thấp được xem là hướng đi tất yếu.
Đề án phát triển bền vững một triệu hecta chuyên canh lúa chất lượng cao, phát thải thấp tại đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030 đang tạo động lực quan trọng cho quá trình chuyển đổi này. Đề án hướng tới việc tổ chức lại sản xuất theo chuỗi giá trị, nâng cao chất lượng hạt gạo và giảm phát thải khí nhà kính trong canh tác lúa.
Trong bối cảnh nông nghiệp toàn cầu đang chuyển mạnh sang mô hình tăng trưởng xanh, việc phát triển lúa phát thải thấp được xem là cơ hội để ngành lúa gạo đồng bằng sông Cửu Long tái định vị giá trị, nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Bên cạnh đó, một số địa phương trong vùng đang đóng vai trò trung tâm trong việc nghiên cứu, chuyển giao kỹ thuật và nhân rộng các mô hình sản xuất mới. TP. Hồ Chí Minh và TP. Cần Thơ, với hệ thống viện, trường và cơ sở nghiên cứu nông nghiệp, đang tham gia tích cực vào quá trình này.
Riêng TP. Cần Thơ được xem là một trong những trung tâm nông nghiệp quan trọng của đồng bằng sông Cửu Long. Theo ngành nông nghiệp địa phương, vụ đông xuân 2024 - 2025 nông dân thành phố đã xuống giống hơn 72.000 ha lúa, năng suất đạt gần 7,5 tấn/ha - thuộc nhóm cao trong khu vực. Ở vụ thu đông 2024, diện tích gieo trồng lúa của thành phố đạt hơn 68.500 ha, cho thấy sản xuất lúa vẫn giữ vai trò chủ lực trong cơ cấu nông nghiệp địa phương.
Song song với sản xuất truyền thống, TP. Cần Thơ cũng là địa phương đi đầu trong việc thử nghiệm các mô hình lúa chất lượng cao và giảm phát thải. Một số mô hình thí điểm trong vụ hè thu gần đây cho thấy năng suất đạt khoảng 64 tạ/ha, cao hơn ruộng đối chứng khoảng 7 tạ/ha. Đồng thời, lượng phát thải khí nhà kính có thể giảm từ 2 - 12 tấn CO₂ tương đương mỗi hecta so với phương thức canh tác thông thường.
Việc mở rộng các mô hình lúa phát thải thấp cũng gắn với thay đổi phương thức quản lý phụ phẩm nông nghiệp, đặc biệt là rơm rạ sau thu hoạch. Thay vì đốt rơm rạ như trước đây, nhiều nơi đã thu gom để sản xuất phân hữu cơ, trồng nấm hoặc làm nguyên liệu cho các sản phẩm sinh học. Cách làm này vừa giúp giảm phát thải khí nhà kính vừa tạo thêm giá trị kinh tế từ phụ phẩm nông nghiệp.
Trong bối cảnh nông nghiệp toàn cầu đang chuyển mạnh sang mô hình tăng trưởng xanh, việc phát triển lúa phát thải thấp được xem là cơ hội để ngành lúa gạo của đồng bằng sông Cửu Long tái định vị giá trị và nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Từ những cánh đồng thí điểm ban đầu, quá trình chuyển đổi này đang từng bước mở ra hướng phát triển mới cho nông nghiệp của vùng.



Sức ép từ thị trường và xu hướng tiêu dùng mới đang buộc nhiều doanh nghiệp khởi nghiệp phải tìm kiếm những động lực phát triển bền vững hơn. Trong bối cảnh đó, đổi mới sáng tạo, R&D và khai thác lợi thế từ nguồn lực bản địa đang nổi lên như những hướng đi giàu tiềm năng...
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng đề nghị các bộ, ngành, địa phương tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm, chủ trương của Đảng “phát triển nhanh nhưng phải bền vững”; “không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần”; “bảo vệ môi trường phải được đặt ở vị trí trung tâm trong quá trình hoạch định chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và phát triển kinh tế xã hội của từng ngành, từng địa phương”.
Dựa trên hướng tiếp cận mới, các nhiệm vụ giải pháp phải có sự đột phá nhưng vẫn có tính kế thừa, thúc đẩy mạnh mẽ sự chuyển biến về nhận thức, hành động, kiến tạo thể chế, chính sách cho phát triển nhanh và bền vững kinh tế biển. Chuyển mạnh từ tư duy nặng về bảo vệ, bảo tồn sang phát triển nhanh và bền vững, chuyển từ phát triển kinh tế ven biển sang phát triển quốc gia hướng biển...
Một thay đổi lớn trong Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo sửa đổi là hoàn thiện chế định giao, cho thuê và đăng ký sử dụng khu vực biển. Dự thảo luật lần đầu tiên nghiên cứu bổ sung các cơ chế như đấu giá quyền sử dụng khu vực biển, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng khu vực biển và hồ sơ hải chính...
Điện sinh khối từ bã mía hiện chiếm hơn 95% tổng công suất điện sinh khối của Việt Nam, song đang gặp nhiều rào cản về cơ chế giá và chính sách phát triển. Mức giá mua điện thấp, quy định phân loại dự án chưa phù hợp và những vướng mắc trong cơ chế thanh toán khiến nguồn năng lượng tái tạo này chưa phát huy hết tiềm năng...
Bức tranh kinh tế của Việt Nam trong tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều chỉ số tăng trưởng tích cực. Điển hình như chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 5 tăng 8,8% so với cùng kỳ; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 11,8%....
Chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng mới, lấy phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính là quan điểm nhất quán hiện nay của Đảng và Nhà nước ta. Với đặc trưng là trung tâm cảng biển, công nghiệp... Hải Phòng có đầy đủ các điều kiện để trở thành địa phương đi đầu trong thí điểm các mô hình phát triển mới.