Theo báo cáo của Tổng cục Hải quan, tính đến hết 9/2023 cả nước xuất khẩu gần 6,42 triệu tấn gạo, đạt kim ngạch 3,54 tỷ USD, trị giá bình quân đạt 551,5 USD/tấn, tăng 19,5% về lượng (tăng 35,9%) và tăng 13,7% về trị giá bình quân so với cùng kỳ năm 2022.
Về thị trường xuất khẩu gạo, Philippines, Trung Quốc và Indonesia là 3 thị trường dẫn đầu; trong đó, Philippines vẫn là thị trường xuất khẩu gạo lớn nhất của Việt Nam.
Cụ thể, trong 9 tháng năm 2023, xuất khẩu gạo sang thị trường Philippines đạt trên 2,44 triệu tấn, đạt kim ngạch 1,29 tỷ USD, giảm 1,1% về lượng nhưng tăng 12,8% về kim ngạch cùng kỳ năm 2022. Quốc gia này chiếm 38% về lượng và chiếm 36,5% về kim ngạch xuất khẩu gạo của cả nước.
Xếp vị trí thứ hai là Trung Quốc chiếm 13,3% trong tổng lượng và chiếm 14% trong tổng kim ngạch, đạt 858.848 tấn (tương đương 495,78 triệu USD), đạt giá trung bình 577,3 USD/tấn, tăng mạnh 37,2% về lượng và tăng 55,2% kim ngạch. Giá tăng 13,1% so với 9 tháng năm 2022.
Indonesia đứng vị trí thứ ba, đạt 884.177 tấn (tương đương 462,61 triệu USD), giá 523,2 USD/tấn, tăng mạnh 1.667% về lượng, tăng 1.794% kim ngạch và tăng nhẹ 7,2% về giá so với 9 tháng năm 2022, chiếm 13,8% trong tổng lượng và chiếm 13% trong tổng kim ngạch xuất khẩu gạo của cả nước. Đây là thị trường đầy tiềm năng và liên tục xuất hiện nhiều tín hiệu lạc quan, tăng trưởng rất mạnh trong thời gian gần đây cũng như trong sắp tới.
Cũng theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, xuất khẩu sang các thị trường trong khu vực Hiệp định Đối tác Kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) đạt 4,64 triệu tấn, tương đương 2,49 tỷ USD, tăng 29,7% về lượng, tăng 46,9% kim ngạch.
Xuất khẩu sang các thị trường thuộc khu vực Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương(CPTTP) đạt 459.451 tấn, tương đương 247,33 triệu USD, tăng 7% về lượng, tăng 18,2% kim ngạch. Riêng xuất khẩu sang thị trường Đông Nam Á đạt trên 3,75 triệu tấn, tương đương 1,98 tỷ USD, tăng 28,5% về lượng, tăng 45,6% kim ngạch.
Trong tổng lượng xuất khẩu gạo khoảng 4,2 triệu tấn, riêng 3 thị trường ở Châu Á gồm Philippines, Trung Quốc và Indonesia chiếm đến 65,4% tổng lượng gạo xuất khẩu cả nước trong 9 tháng đầu năm 2023.
Liên quan đến thị trường tăng “đột biến” 4 con số là Indonesia, Thương vụ Việt Nam tại Indonesia cho biết nước này sẽ cần thêm khoảng 1,5 triệu tấn gạo dự trữ quốc gia từ nay tới hết năm 2023, theo tuyên bố của tổng thống Indonesia Widodo. Đây được xem là cơ hội lớn cho mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam.
Cũng theo Thương vụ Việt Nam tại Indonesia, Bộ Nông nghiệp Indonesia cũng xác nhận Việt Nam và Thái Lan sẽ là hai nguồn cung cấp gạo chính cho đợt thu mua 1,5 triệu tấn gạo dự trữ sắp tới cho quốc gia vạn đảo này. Khả năng việc nhập khẩu gạo này sẽ được thực hiện sớm nhất trong tháng 10/2023.
Indonesia chọn Việt Nam là nguồn cung chính cho các đợt thu mua lúa gạo vì theo Thương vụ Việt Nam tại Indonesia, gạo Việt Nam luôn là nguồn cung uy tín, giành được sự tin tưởng của chính phủ và người tiêu dùng Indonesia trong bối cảnh nước này đang phải đối mặt với sự thiếu hụt về sản lượng lương thực sản xuất trong nước do ảnh hưởng bởi hiện tượng thời tiết El Nino. Điều này giúp khẳng định thêm vị thế, uy tín chất lượng của hạt gạo Việt Nam.
Trước đó, Thương vụ Việt Nam tại Indonesia đã có Văn bản số 08/SQ/TV/2023 ngày 27/3/2023 gửi Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương Việt Nam đề cập về việc nhập khẩu gạo dự trữ quốc gia của Indonesia trong năm 2023. Theo Thương vụ Việt Nam, Indonesia là thị trường xuất khẩu gạo truyền thống và trọng điểm của Việt Nam.
Cụ thể, Chính phủ Indonesia đã ra quyết định sẽ nhập khẩu 2 triệu tấn gạo dự trữ quốc gia trong năm 2023, trong đó 500.000 tấn sẽ được thực hiện sớm nhất có thể. Liên quan tới gạo dự trữ quốc gia trong năm 2023, Indonesia đã quyết định gia tăng lượng gạo thu mua dự trữ lên 2,4 triệu tấn thay vì 1,2 triệu tấn như hiện nay, nhằm bảo đảm an ninh lương thực của quốc gia này.
Trên cơ sở đó, Bộ Công Thương đã ra khuyến cáo gửi các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu gạo Việt Nam, đề nghị họ cần chủ động theo dõi sát tình hình thị trường, đánh giá đẩy đủ các cơ hội cũng như rủi ro để xây dựng phương án giao dịch, ký kết hợp đồng phù hợp, bảo đảm hiệu quả xuất khẩu cũng như góp phần tiêu thụ hết thóc, gạo hàng hóa cho người nông dân với giá có lợi.
Bên cạnh đó, Cục Xuất nhập khẩu cũng lưu ý các thương nhân chủ động phương án phòng ngừa các rủi ro về giá cả, thanh toán và giao hàng trong bối cảnh tình hình thương mại thế giới đang có nhiều biến động.
Trong 5 năm qua, Trung Quốc đã tăng cường sử dụng các biện pháp kiểm soát xuất khẩu, với tần suất áp dụng tăng gấp gần ba lần so với giai đoạn trước đó...
Trong quan hệ buôn bán hàng hóa với nước ngoài, Trung Quốc là thị trường mà Việt Nam nhập khẩu và nhập siêu lớn nhất. Điều này đặt ra nhiều thách thức và cơ hội cho nền kinh tế Việt Nam trong việc cân bằng cán cân thương mại và phát triển bền vững.
Theo UOB, GDP Việt Nam quý 1/2026 tăng 7,83%, vượt kỳ vọng nhờ động lực từ sản xuất, xây dựng và dịch vụ. Tăng trưởng năm 2026 được dự báo duy trì nhịp ổn định trong bối cảnh ngoại thương và FDI tích cực, trong khi các yếu tố lạm phát, năng lượng và địa chính trị vẫn đang được theo dõi...
Mời quý độc giả đón đọc Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 16-2026 phát hành ngày 20/04/2025 với nhiều chuyên mục hấp dẫn...
Căng thẳng kéo dài quanh eo biển Hormuz và việc Mỹ - Iran không đạt đột phá trong đàm phán gần đây cho thấy rủi ro lớn nhất với các nước nhập khẩu năng lượng không chỉ là biến động giá dầu, mà là khả năng bảo đảm nguồn cung trong khủng hoảng. Với Việt Nam, đây là thời điểm cần chuyển từ tư duy “mua rẻ” sang “mua chắc”.
Tọa đàm: “Cú sốc” Hormuz: Bài toán an ninh năng lượng cho Việt Nam do Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức và phát livestream trên nền tảng VnEconomy.vn, FanPage VnEconomy vào lúc 09h00 ngày 17/4/2026...
Tọa đàm: “Cú sốc” Hormuz: Bài toán an ninh năng lượng cho Việt Nam do Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức và phát livestream trên nền tảng VnEconomy.vn, FanPage VnEconomy vào lúc 09h00 ngày 17/4/2026...