Ngân sách nghiên cứu khoa học công nghệ của Việt Nam vẫn thấp hơn trung bình thế giới
Bảo Bình
06/04/2026
Theo chuyên gia, vấn đề lớn nhất của Việt Nam hiện nay không nằm ở định hướng hay chiến lược, mà cái khó là biến nó thành thực thi trong thực tiễn...
Theo PGS.TS. Vũ Sỹ Cường, Học viện Tài chính, nguồn lực cho đổi mới sáng tạo có thể chia thành ba nhóm chính. Thứ nhất là nguồn lực từ phía Nhà nước, tức ngân sách; thứ hai là từ doanh nghiệp; và thứ ba là từ thị trường.
CAM KẾT 2% TỪ RẤT SỚM, NHƯNG CHƯA MỘT LẦN ĐẠT MỤC TIÊU
PGS.TS. Vũ Sỹ Cường cho biết không phải đến bây giờ Việt Nam mới quan tâm đến khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. Ngay từ những năm đầu của thời kỳ đổi mới, cụ thể là năm 1992, Nghị định 35-HĐBT đã yêu cầu tăng cường huy động nguồn tài chính cho khoa học công nghệ, xác định khoa học công nghệ là một trong những mục tiêu then chốt cho phát triển kinh tế.
“Thời điểm đó, chúng ta chưa dùng khái niệm “đổi mới sáng tạo” mà chủ yếu nói đến khoa học công nghệ, nhưng tư duy cốt lõi đã có”, PGS.TS. Vũ Sỹ Cường nói. “Nghị định 35-HĐBT đã đề rõ “hàng năm, Nhà nước dành ít nhất 2% ngân sách Nhà nước cho nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ”.
Nếu bản thân ngân sách nhà nước – nguồn lực chủ động nhất – còn chưa thực hiện được mục tiêu đề ra, thì liệu chúng ta có thể kỳ vọng vào nguồn lực từ doanh nghiệp và thị trường hay không?
Mục tiêu ít nhất 2% tổng chi ngân sách nhà nước cho khoa học và công nghệ cũng đã được nhắc lại nhiều lần trong các văn bản như Nghị quyết 20-NQ/TW năm 2012, Luật Khoa học và Công nghệ 2013 và Nghị quyết 57-NQ/TW tiếp tục duy trì và nâng cao yêu cầu “hướng tới 2% GDP cho R&D tổng thể và ít nhất 3% tổng chi ngân sách cho khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo”.
Tuy nhiên, trong nhiều năm, tỷ lệ chi chỉ dao động quanh mức 1%, năm cao nhất cũng chỉ tiệm cận khoảng 1,8% nhưng vẫn chưa đạt ngưỡng đề ra. Và ngay cả hiện nay, tình hình cũng chưa thay đổi đáng kể. “Điều này đặt ra câu hỏi: nếu bản thân ngân sách nhà nước – nguồn lực chủ động nhất – còn chưa thực hiện được mục tiêu đề ra, thì liệu chúng ta có thể kỳ vọng vào nguồn lực từ doanh nghiệp và thị trường hay không?”, PGS.TS. Vũ Sỹ Cường đặt câu hỏi.
Song song với chính sách chi ngân sách, Việt Nam cũng có nhiều cơ chế khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho khoa học công nghệ, như ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng, tiền thuê đất…. Tuy nhiên, hiệu quả khá hạn chế, các ưu đãi chưa đủ hấp dẫn, khó triển khai. Theo số liệu thống kê, mức chi cho nghiên cứu và phát triển (R&D) của khu vực doanh nghiệp Việt Nam hiện chỉ khoảng 0,2% GDP, thấp hơn rất nhiều so với nhiều quốc gia khác. Tổng chi quốc gia cho nghiên cứu và phát triển khoảng 0,4% GDP, chỉ nhỉnh hơn một số ít nước như Philippines.
Dữ liệu từ Bộ Khoa học và Công nghệ cho thấy, từ năm 2015 đến nay, tổng chi cho nghiên cứu phát triển có tăng về mặt danh nghĩa, từ khoảng 18.000 tỷ đồng lên khoảng 42.000 tỷ đồng vào năm 2023. Tuy nhiên, nếu loại trừ yếu tố lạm phát, mức tăng này gần như không đáng kể. Trong gần 10 năm, với mức lạm phát trung bình khoảng 6–7% mỗi năm, có thể nói là “chi thực tế gần như không tăng”.
“Đầu tư cho R&D ở Việt Nam chỉ đạt hơn 0,4% GDP, bằng 1⁄4 so với mục tiêu 2% và thấp hơn nhiều so với mức 1,7% ở Trung Quốc và 3,6% ở Hàn Quốc. Trong khi đó, mức chi cho R&D của thế giới năm 2021 là 2,62% GDP, gấp hơn 5 lần Việt Nam theo dữ liệu của World Bank”, PGS.TS. Vũ Sỹ Cường cho biết.
TÂM LÝ E DÈ, KHÔNG DÁM MẠNH DẠN GIẢI NGÂN
Một điểm tích cực là chi từ khu vực ngoài nhà nước, đặc biệt là doanh nghiệp, đang có xu hướng tăng lên. Tuy nhiên, PGS.TS. Vũ Sỹ Cường lưu ý phần lớn khoản chi này đến từ doanh nghiệp nhà nước, trong khi khu vực doanh nghiệp tư nhân – nơi đáng lẽ phải là động lực chính – lại tham gia rất hạn chế.
Mặc dù có chính sách cho phép doanh nghiệp trích tối đa 10% thu nhập, thậm chí nâng lên tối đa 20% thu nhập tính thuế hàng năm kể từ ngày 01/10/2025 theo Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2025 số 67/2025/QH15, để lập quỹ phát triển khoa học công nghệ và được miễn thuế phần này, nhưng khảo sát cho thấy tỷ lệ doanh nghiệp thực sự lập và sử dụng quỹ rất thấp. Nguyên nhân do thủ tục sử dụng quỹ phức tạp, nhiều doanh nghiệp không biết chi tiêu thế nào cho đúng quy định.
Không chỉ doanh nghiệp, ngay cả khu vực công cũng gặp nhiều vướng mắc trong quá trình triển khai. Việc giải ngân kinh phí nghiên cứu khoa học thường xuyên bị ách tắc do quy trình hành chính, kế toán và kiểm soát nội bộ. Chỉ cần một khâu không thông suốt, cả đề tài có thể bị đình trệ.
Theo chuyên gia, vấn đề lớn nhất của Việt Nam hiện nay không nằm ở định hướng hay chiến lược. “Các nghị quyết, chính sách của chúng ta có thể nói là rất đúng và đầy đủ. Nhưng cái khó là biến nó thành thực thi trong thực tiễn”, ông nhấn mạnh.
Những rào cản này không chỉ tồn tại ở cấp chính sách vĩ mô mà còn thể hiện rõ trong những trải nghiệm rất cụ thể, như các thủ tục hành chính còn kéo dài, tất cả đều cho thấy khoảng cách lớn giữa mục tiêu chuyển đổi số và thực tế triển khai.
Bên cạnh đó, hàng loạt quỹ hỗ trợ khoa học công nghệ đã được thành lập, từ quỹ phát triển khoa học công nghệ, quỹ đổi mới sáng tạo đến quỹ hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tuy nhiên, tỷ lệ giải ngân của nhiều quỹ vẫn ở mức thấp.
Một nguyên nhân quan trọng là tâm lý e ngại rủi ro. “Mặc dù đã có những quy định mới, cho phép chấp nhận mức tổn thất nhất định trong đầu tư công nghệ và miễn trách nhiệm trong trường hợp nguyên nhân khách quan, nhưng việc xác định “nguyên nhân khách quan” vẫn rất khó. Điều này khiến nhiều người vẫn e dè, không dám mạnh dạn giải ngân”, chuyên gia nhấn mạnh.
BIẾN CHÍNH SÁCH THÀNH THỰC TẾ
“Tôi cho rằng điều quan trọng hiện nay là làm thế nào để biến các chính sách hiện có thành thực tế”, PGS.TS. Vũ Sỹ Cường chia sẻ. Thứ nhất, thực hiện đúng cam kết về chi ngân sách cho khoa học công nghệ và quan trọng hơn là phải giải ngân được.
Thứ hai, cụ thể hóa các quy định ở mức chi tiết hơn, đặc biệt trong các văn bản dưới luật, để đảm bảo tính khả thi. Đồng thời, cần chấp nhận rủi ro trong đầu tư cho khoa học công nghệ và hạn chế hình sự hóa các sai sót mang tính khách quan. Ông cho biết ở nhiều quốc gia, việc thất bại trong nghiên cứu không bị xử lý hình sự nếu không có yếu tố trục lợi cá nhân.
Thứ ba, cải thiện các chính sách tài chính cho doanh nghiệp, như cho phép chuyển lỗ trong hoạt động nghiên cứu phát triển sang các năm sau để khấu trừ, qua đó tạo động lực đầu tư dài hạn. Hiện nay, các cơ chế này ở Việt Nam còn rất hạn chế.
Thứ tư, cần rà soát toàn bộ hệ thống văn bản pháp lý liên quan, từ luật đến nghị định, để đảm bảo tính đồng bộ và khả thi. Nhiều cơ chế rất tiến bộ trên giấy tờ nhưng khi triển khai lại gặp vướng mắc, đặc biệt trong các vấn đề như góp vốn, phân chia lợi nhuận, sử dụng tài sản công hay khai thác cơ sở vật chất nghiên cứu.
Cuối cùng, ngoài nguồn lực tài chính, PGS.TS. Vũ Sỹ Cường đã đề cập đến thiếu nguồn lực con người khi đội ngũ nghiên cứu “còn rất mỏng”.
Trong làn sóng chuyển đổi số mạnh mẽ, nghề phân tích dữ liệu (data analyst) được xem là một trong những công việc “khát” nhân lực. Tuy nhiên, phía sau sức hút đó là không ít áp lực và rào cản…
Đây là lần đầu tiên tại Việt Nam trình diễn trực tiếp hệ thống phân phối khóa lượng tử sử dụng giao thức BB84 trên hệ thực nghiệm, đánh dấu khả năng đưa công nghệ lượng tử vào ứng dụng thực tế trong lĩnh vực bảo mật thông tin...
Từ một sự cố an ninh mạng, hậu quả có thể dẫn đến việc doanh nghiệp phải đóng cửa. Và hiện nay, không ít doanh nghiệp vẫn cho rằng mình “quá nhỏ”, không phải mục tiêu của tấn công mạng…
Khối doanh nghiệp vừa và nhỏ thường được xem là “mắt xích yếu” trong hệ thống phòng thủ an ninh mạng do hạn chế về nguồn lực tài chính, nhân sự chuyên sâu và nhận thức...
Nền tảng sẽ cung cấp khả năng cảnh báo sớm tình trạng xâm nhập mặn trước từ 1 đến 5 ngày, giúp nông dân chủ động điều chỉnh lịch thời vụ, giảm thiểu tối đa thiệt hại kinh tế do thiên tai gây ra...
Lạm dụng các công cụ AI mà thiếu đi tư duy thiết kế bao trùm và sự thấu cảm thực tế sẽ tạo ra những sản phẩm đầy định kiến, xa rời người dùng…
Việt Nam không thể mãi dừng chân ở vai trò "người mua" hay lắp ráp sản phẩm. Doanh nghiệp Việt cần từng bước làm chủ công nghệ lõi, xây dựng nền kinh tế tự chủ nhưng vẫn duy trì hội nhập hiệu quả…
Khi dữ liệu không được hiểu đúng, quản trị đúng và sử dụng thống nhất, mọi nỗ lực công nghệ có thể trở nên kém hiệu quả, thậm chí phản tác dụng…
Khác với các công cụ tự động hóa thông thường, nhân viên số là những thực thể có định danh, có trách nhiệm và vận hành độc lập trong chuỗi giá trị...
Sandbox, thay vì tạo ra môi trường thử nghiệm linh hoạt, đang bị “neo” vào một hệ thống pháp lý thiếu đồng bộ, khiến hiệu quả bị hạn chế…