Số liệu thống kê đến đầu năm 2026 cho thấy, dư nợ tín dụng dành cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn đạt khoảng 4,2 triệu tỷ đồng, chiếm trên 22% tổng dư nợ toàn nền kinh tế. Đặc biệt, tín dụng xanh ghi nhận đà tăng trưởng ấn tượng với gần 780.000 tỷ đồng vào cuối năm 2025. Dù con số là rất lớn, nhưng sự phân bổ và khả năng tiếp cận thực tế của doanh nghiệp vẫn còn nhiều khoảng cách.
Phát biểu tại hội thảo “Hoàn thiện chính sách tín dụng cho nông nghiệp số, nông nghiệp xanh” do Báo Đại biểu Nhân dân tổ chức chiều 24/4, ông Tạ Đình Thi, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, khẳng định, tín dụng là công cụ định hướng dòng vốn, dẫn dắt quá trình chuyển đổi mô hình sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, những rào cản về thể chế và thủ tục đang làm chậm tiến trình đưa vốn vào ngành này.
“Quá trình chuyển đổi nông nghiệp truyền thống sang nông nghiệp số, nông nghiệp xanh đòi hỏi chuyển dịch toàn diện từ nhận thức, tư duy đến hành động. Trong đó, giải pháp phát triển nguồn vốn cho mọi khâu, chuỗi sản xuất nông nghiệp xanh, nông nghiệp số là then chốt cho quá trình chuyển đổi nhanh, đảm bảo hiệu quả”, ông Thi nhấn mạnh.
Một trong những điểm nghẽn lớn nhất được các doanh nghiệp phản ánh là sự phụ thuộc quá mức vào tài sản thế chấp là bất động sản. Ông Nguyễn Văn Long, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Nhật Long, cho biết các doanh nghiệp hoạt động trong ngành nông nghiệp của Việt Nam đa phần là doanh nghiệp sản xuất nhỏ lẻ, manh mún. Khi chuyển sang quy mô công nghiệp, doanh nghiệp phải đối mặt với bài toán pháp lý về đất đai.
Một thực tế hiện nay là phần lớn đất phục vụ sản xuất nông nghiệp được thuê theo hình thức trả tiền hằng năm, thay vì trả tiền một lần. Điều này gây nhiều khó khăn cho các ngân hàng trong quá trình thẩm định.
“Với các dự án đầu tư quy mô lớn, lên tới hàng trăm tỷ đồng nhưng triển khai trên quỹ đất thuê trả tiền hằng năm, việc được chấp thuận tín dụng là cực kỳ khó khăn”, ông Long chia sẻ thực trạng.
Để tháo gỡ điểm nghẽn này, ông Long kiến nghị các ngân hàng cần mạnh dạn chuyển dịch tư duy từ “cho vay dựa trên tài sản thế chấp” sang “cho vay dựa trên dòng tiền và hiệu quả phương án sản xuất”. Theo ông, khi doanh nghiệp minh bạch được chuỗi liên kết và ứng dụng công nghệ để truy xuất nguồn gốc thì đây chính là loại tài sản đảm bảo bằng niềm tin cao nhất.
Đồng quan điểm về việc phải cải cách thủ tục cho vay để đẩy nhanh dòng vốn vào ngành nông nghiệp, ông Nguyễn Quang Ngọc, Phó Trưởng ban Chính sách tín dụng Ngân hàng Agribank, cho biết, đơn vị đang tiên phong dẫn dắt dòng vốn xanh với các gói tín dụng ưu đãi quy mô 50.000 tỷ đồng và Đề án 1 triệu héc-ta lúa chất lượng cao tại Đồng bằng sông Cửu Long. Agribank hiện chiếm thị phần lớn nhất về tín dụng Tam nông với dư nợ 1,26 triệu tỷ đồng.
Tuy nhiên, để phát triển tài chính toàn diện, theo ông Ngọc, đây không thể là nhiệm vụ riêng của ngành ngân hàng mà cần sự tham gia của cả hệ thống chính trị và doanh nghiệp để người nông dân không còn đứng ngoài thị trường, chủ động với ứng phó với những biến động của thị trường.
“Từ câu hỏi làm sao để người dân vay được vốn cần chuyển sang câu hỏi làm sao để người dân sử dụng vốn hiệu quả, thoát nghèo và làm giàu bền vững”, đại diện Agribank nhấn mạnh.
Tuy nhiên, giới chuyên gia cũng cảnh báo rằng, dòng vốn tín dụng sẽ không thể “chảy” mạnh nếu thiếu đi các công cụ “giảm xóc” rủi ro. Nông nghiệp là lĩnh vực chịu tác động trực tiếp từ biến đổi khí hậu và dịch bệnh, khiến cả người vay và người cho vay đều thận trọng.
Đứng ở góc độ quản trị rủi ro, ông Lê Đình Huy, Phó Tổng giám đốc Công ty Bảo hiểm Agribank (ABIC), cho biết bảo vệ người nông dân trước rủi ro chính là nền tảng để chính sách tín dụng đi vào thực tiễn. Trong đó, bảo hiểm nông nghiệp chính là một loại “tài sản bảo đảm bằng niềm tin”.
“Dòng vốn tín dụng sẽ khó có thể phát huy hết vai trò dẫn dắt chuyển đổi nếu thiếu đi các công cụ quản trị rủi ro hiệu quả. Khi khoản vay được bảo hiểm, ngân hàng có cơ sở để mạnh dạn giải ngân, kể cả với khách hàng thiếu tài sản bảo đảm truyền thống”, ông Huy phân tích.
Dù vậy, ông Huy cũng thẳng thắn chỉ ra những bất cập trong Luật Các tổ chức tín dụng 2024. Cụ thể, Khoản 5, Điều 15 quy định cấm gắn bán sản phẩm bảo hiểm không bắt buộc với dịch vụ ngân hàng nếu áp dụng quá cứng nhắc sẽ làm đứt gãy liên kết chuỗi Tín dụng – Bảo hiểm – Nhà nông. Điều này khiến các chủ thể tham gia chuỗi giá trị coi bảo hiểm là một khoản chi phí phát sinh thay vì một công cụ quản trị rủi ro hữu hiệu.
Bên cạnh đó, việc thiếu hụt hệ thống dữ liệu quốc gia về thời tiết, bệnh dịch và lịch sử tổn thất đang khiến các doanh nghiệp bảo hiểm gặp khó trong việc thiết kế các sản phẩm phù hợp. “Nếu không khắc phục được những hạn chế về dữ liệu và khung pháp lý, bảo hiểm nông nghiệp sẽ khó phát triển mạnh mẽ, từ đó ngân hàng cũng không thể yên tâm giải ngân vốn”, đại diện ABIC nhấn mạnh.
Trước thực trạng này, bà Phạm Thị Thanh Huyền, Tổng Biên tập Báo Đại biểu Nhân dân, nhận định tín dụng cho nông nghiệp xanh và số không chỉ là kênh cung ứng tiền mà còn là công cụ định hướng mô hình sản xuất. Trong đó, để khơi thông nguồn vốn, cần giải pháp đồng bộ: Nhà nước hoàn thiện thể chế và danh mục phân loại xanh; ngân hàng cải cách thủ tục và định giá dựa trên dòng tiền; trong khi doanh nghiệp minh bạch hóa sản xuất và Bảo hiểm trở thành “lá chắn” rủi ro.
Sức ép từ thị trường và xu hướng tiêu dùng mới đang buộc nhiều doanh nghiệp khởi nghiệp phải tìm kiếm những động lực phát triển bền vững hơn. Trong bối cảnh đó, đổi mới sáng tạo, R&D và khai thác lợi thế từ nguồn lực bản địa đang nổi lên như những hướng đi giàu tiềm năng...
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng đề nghị các bộ, ngành, địa phương tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm, chủ trương của Đảng “phát triển nhanh nhưng phải bền vững”; “không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần”; “bảo vệ môi trường phải được đặt ở vị trí trung tâm trong quá trình hoạch định chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và phát triển kinh tế xã hội của từng ngành, từng địa phương”.
Dựa trên hướng tiếp cận mới, các nhiệm vụ giải pháp phải có sự đột phá nhưng vẫn có tính kế thừa, thúc đẩy mạnh mẽ sự chuyển biến về nhận thức, hành động, kiến tạo thể chế, chính sách cho phát triển nhanh và bền vững kinh tế biển. Chuyển mạnh từ tư duy nặng về bảo vệ, bảo tồn sang phát triển nhanh và bền vững, chuyển từ phát triển kinh tế ven biển sang phát triển quốc gia hướng biển...
Một thay đổi lớn trong Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo sửa đổi là hoàn thiện chế định giao, cho thuê và đăng ký sử dụng khu vực biển. Dự thảo luật lần đầu tiên nghiên cứu bổ sung các cơ chế như đấu giá quyền sử dụng khu vực biển, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng khu vực biển và hồ sơ hải chính...
Điện sinh khối từ bã mía hiện chiếm hơn 95% tổng công suất điện sinh khối của Việt Nam, song đang gặp nhiều rào cản về cơ chế giá và chính sách phát triển. Mức giá mua điện thấp, quy định phân loại dự án chưa phù hợp và những vướng mắc trong cơ chế thanh toán khiến nguồn năng lượng tái tạo này chưa phát huy hết tiềm năng...
Bức tranh kinh tế của Việt Nam trong tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều chỉ số tăng trưởng tích cực. Điển hình như chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 5 tăng 8,8% so với cùng kỳ; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 11,8%....
Chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng mới, lấy phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính là quan điểm nhất quán hiện nay của Đảng và Nhà nước ta. Với đặc trưng là trung tâm cảng biển, công nghiệp... Hải Phòng có đầy đủ các điều kiện để trở thành địa phương đi đầu trong thí điểm các mô hình phát triển mới.