Sở Xây dựng TP. Hồ Chí Minh vừa có buổi làm việc với lãnh đạo Ủy ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh, Đại sứ, Tổng Lãnh sự Hà Lan cùng các chuyên gia và đơn vị tư vấn của nước này. Các bên đã cùng bàn về giải pháp tổng thể ứng phó ngập úng cho thành phố trong tầm nhìn tới năm 2050.
Đại diện Sở Xây dựng cho biết thành phố hiện ghi nhận 159 điểm ngập, trong đó, khu vực TP. Hồ Chí Minh (cũ) có 76 điểm, khu vực Bình Dương (cũ) 52 điểm và khu vực Bà Rịa – Vũng Tàu (cũ) 31 điểm.
Theo đánh giá của Sở Xây dựng, tình trạng ngập tại thành phố xuất phát từ nhiều nguyên nhân. Một trong những nguyên nhân do biến đổi khí hậu khiến gia tăng các trận mưa lớn trong thời gian ngắn, trong khi hiện tượng sụt lún nền đất diễn ra nghiêm trọng với tốc độ trung bình khoảng 2 cm/năm, nhiều khu vực lên tới 5–8 cm/năm, làm suy giảm khả năng thoát nước tự nhiên của đô thị.
Bên cạnh đó, quy hoạch thoát nước trước đây sử dụng các thông số mưa – triều đã lạc hậu; đầu tư hạ tầng còn phân tán; nguồn lực tài chính mới đáp ứng khoảng 30% nhu cầu. Không những thế, tình trạng lấn chiếm kênh rạch, bê tông hóa bề mặt đô thị và xả rác gây tắc nghẽn dòng chảy cũng tiếp tục là những thách thức lớn đối với thành phố.
Trước thực trạng này, TP. Hồ Chí Minh xác định ưu tiên triển khai đồng thời ba nhóm giải pháp chống ngập, gồm: quy hoạch – thể chế – công nghệ; hạ tầng xanh và trữ nước; các công trình cứng bảo vệ và tiêu thoát nước trong ba giai đoạn chính.
Giai đoạn 2025–2026, TP. Hồ Chí Minh đặt mục tiêu hoàn thành dự án giải quyết ngập do triều (giai đoạn 1) nhằm kiểm soát triều ở quy mô vùng; hoàn thiện các tuyến đê bao xung yếu tại quận 7, Nhà Bè và TP. Thủ Đức (cũ); đồng thời bổ sung trạm bơm cưỡng bức tại các cửa xả thấp.
Thành phố cũng tập trung hoàn thành các dự án trọng điểm như cải tạo kênh Tham Lương – Bến Cát – Rạch Nước Lên, dự án chống sạt lở bán đảo Thanh Đa; lắp đặt van ngăn triều, nạo vét hệ thống cống và tổ chức lực lượng ứng cứu ngập 24/7.
Giai đoạn 2026–2030, TP. Hồ Chí Minh sẽ tiếp tục hoàn thiện hệ thống đê bao và cống kiểm soát triều; xây dựng các hồ điều tiết tại khu đô thị và vùng trũng thấp; đồng thời nâng cấp dung tích phòng lũ của các hồ chứa thượng nguồn.
Song song đó, thành phố triển khai chỉnh trang đô thị, di dời khoảng 22.984 hộ dân sống ven kênh rạch nhằm khơi thông dòng chảy và mở rộng không gian xanh. Mục tiêu đến năm 2030 kiểm soát cơ bản toàn bộ 159 điểm ngập hiện hữu.
Tầm nhìn đến năm 2050, TP. Hồ Chí Minh hướng tới hình thành hệ thống đê vành đai theo lưu vực trên toàn địa bàn, có khả năng liên thông và phối hợp vận hành với các địa phương trong vùng theo các kịch bản triều – mưa – sông. Hệ thống kênh tiêu chính, chi lưu và các tuyến tháo nước liên vùng sẽ được hoàn thiện, bảo đảm dòng chảy thông suốt từ khu vực nội đô ra biển và các cửa sông.
Ở góc độ chuyên gia, ông Đoàn Mạnh Thắng, Giám đốc ngành nước & quy hoạch của Công ty Haskoning Việt Nam, nhận định Việt Nam đang có nhiều chuyển dịch trong tư duy quy hoạch tài nguyên nước, từ “chống nước bằng công trình cứng” sang “sống chung với nước”, kết hợp hài hòa giữa giải pháp công trình và phi công trình, quản lý theo lưu vực và gần gũi với thiên nhiên hơn.
Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi này vẫn đối mặt với nhiều thách thức. Tại đồng bằng sông Cửu Long, biến đổi khí hậu, sụt lún và xâm nhập mặn tiếp tục diễn biến phức tạp, trong khi tình trạng ngập úng ở TP. Hồ Chí Minh diễn ra hàng năm. Theo ông Thắng, “điểm nghẽn” lớn nhất hiện nay nằm ở khâu thực thi quy hoạch tích hợp, khi ba yếu tố then chốt là dữ liệu, thể chế và nguồn lực tài chính chưa được vận hành đồng bộ.
Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu duy trì tốc độ tăng trưởng GDP khoảng 10% mỗi năm, hạ tầng nước cần có những bước nhảy vọt cả về quy hoạch, thiết kế lẫn vận hành. Yêu cầu đặt ra không chỉ là gia tăng vốn đầu tư, mở rộng mạng lưới đường ống hay xây thêm các nhà máy xử lý, mà còn là chuyển đổi toàn diện tư duy quản lý nước đô thị.
Theo đó, hệ thống thoát nước cần được tích hợp chặt chẽ vào quy hoạch đô thị và phát triển theo hướng “thuận thiên”. Ông Thắng đề xuất áp dụng hai mô hình tiên tiến là “Room for the River” và “đô thị bọt biển” (sponge city).
“Room for the River” là mô hình quản lý nước xuất phát từ Hà Lan, trong đó dành không gian cho sông và lũ thay vì chỉ xây đê, kè. Mô hình này giúp giảm ngập lụt, tăng khả năng chống chịu của đô thị, bảo vệ hệ sinh thái và tạo không gian công cộng.
Ở Việt Nam, đặc biệt tại TP. Hồ Chí Minh và đồng bằng sông Cửu Long, mô hình này được xem là giải pháp phù hợp để sống chung với nước, giảm áp lực cho hệ thống thoát nước và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Trong khi đó, mô hình “đô thị bọt biển” tập trung vào tái tạo khả năng thấm và trữ nước mưa ngay trong đô thị, giúp làm chậm dòng chảy thay vì chỉ thoát nước nhanh ra bên ngoài. Giải pháp này không chỉ giảm ngập lụt mà còn tăng khả năng phục hồi, bảo vệ môi trường và cải thiện chất lượng sống cho người dân đô thị.
Việc áp dụng đồng bộ các mô hình này được kỳ vọng tạo ra hệ thống hạ tầng nước linh hoạt, bền vững, vừa phục vụ phát triển kinh tế nhanh, vừa giảm thiểu rủi ro thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu. Đây cũng là bước chuyển quan trọng để nước trở thành một yếu tố thiết yếu của hệ sinh thái đô thị, thay vì chỉ là thách thức cần kiểm soát.
Để tăng khả năng chống chịu trong giai đoạn 2026–2035, ông Thắng cho rằng Việt Nam cần tập trung vào một số nhiệm vụ trọng tâm, bao gồm giảm sụt lún thông qua hạn chế khai thác nước ngầm; xây dựng chiến lược quản lý trầm tích và cát; thúc đẩy chuyển đổi sinh kế “thuận thiên”; giảm ngập cho TP. Hồ Chí Minh theo hướng giữ – thoát – sống chung với nước;
Bên cạnh đó cần triển khai các dự án đầu tư công dựa trên dữ liệu và kết quả thực tế; xây dựng cơ chế tài chính liên tỉnh – thành phố gắn với kết quả thích ứng và phục hồi.
Ở góc độ quản trị, ngành nước cần đổi mới theo hướng nâng cao hiệu quả và minh bạch. Các hợp đồng vận hành cần gắn với chỉ số hiệu năng cụ thể, trong khi lộ trình thu hồi chi phí bền vững, đi kèm cơ chế hỗ trợ nhóm yếu thế, được xem là nền tảng để ngành nước phát triển ổn định và lâu dài.
Cục Hàng không Việt Nam đề nghị phía Trung Quốc duy trì nguồn cung nhiên liệu hàng không ổn định nhằm hỗ trợ các hãng bay Việt Nam duy trì hoạt động trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu chịu tác động từ xung đột Trung Đông...
Tăng trưởng kinh tế trong kỷ nguyên mới được đặt ra với mục tiêu rất cao, kéo theo yêu cầu phải gia tăng mạnh mẽ nguồn vốn đầu tư cho phát triển. Tuy nhiên, bên cạnh việc mở rộng quy mô vốn đầu tư, yêu cầu nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đang trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.
Theo UOB, GDP Việt Nam quý 1/2026 tăng 7,83%, vượt kỳ vọng nhờ động lực từ sản xuất, xây dựng và dịch vụ. Tăng trưởng năm 2026 được dự báo duy trì nhịp ổn định trong bối cảnh ngoại thương và FDI tích cực, trong khi các yếu tố lạm phát, năng lượng và địa chính trị vẫn đang được theo dõi...
Mời quý độc giả đón đọc Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 16-2026 phát hành ngày 20/04/2025 với nhiều chuyên mục hấp dẫn...
Với tổng mức đầu tư gần 700 tỷ đồng, tuyến đường từ Quốc lộ 1 đến Quốc lộ 15B được kỳ vọng sẽ từng bước tháo gỡ điểm nghẽn hạ tầng, tạo động lực phát triển mới cho các xã ven biển và nâng cao năng lực kết nối liên vùng...
Tọa đàm: “Cú sốc” Hormuz: Bài toán an ninh năng lượng cho Việt Nam do Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức và phát livestream trên nền tảng VnEconomy.vn, FanPage VnEconomy vào lúc 09h00 ngày 17/4/2026...
Tọa đàm: “Cú sốc” Hormuz: Bài toán an ninh năng lượng cho Việt Nam do Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức và phát livestream trên nền tảng VnEconomy.vn, FanPage VnEconomy vào lúc 09h00 ngày 17/4/2026...