Theo số liệu thống kê sơ bộ mới nhất vừa được Tổng cục Hải quan công bố, trị giá xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam trong kỳ 1 tháng 11/2024 (từ ngày 01/11 đến ngày 15/11/2024) đạt 33,44 tỷ USD, giảm 9,7% (tương ứng giảm 3,58 tỷ USD) so với kết quả thực hiện trong nửa cuối tháng 10/2024.
Kết quả đạt được trong nửa đầu tháng 11/2024 đã đưa tổng trị giá xuất nhập khẩu của cả nước đến hết ngày 15/11/2024 đạt 681,48 tỷ USD, tăng 15,7% tương ứng tăng 92,28 tỷ USD về số tuyệt đối so với cùng kỳ năm 2023.
Trong đó, tổng trị giá xuất nhập khẩu của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt 461,33 tỷ USD, tăng 14% (tương ứng tăng 56,74 tỷ USD).
Cụ thể, về xuất khẩu, trong kỳ 1 tháng 11/2024 đạt 16,73 tỷ USD, giảm 13,7% (tương ứng giảm 2,66 tỷ USD về số tuyệt đối) so với kỳ 2 tháng 10/2024.
Trị giá xuất khẩu kỳ 1 tháng 11/2024 giảm so với kỳ 2 tháng 10/2024 ở một số nhóm hàng sau: máy móc thiết bị dụng cụ và phụ tùng giảm 577 triệu USD, tương ứng giảm 20%; điện thoại các loại và linh kiện giảm 365 triệu USD, tương ứng giảm 14,4%; máy vi tính sản phẩm điện tử và linh kiện giảm 261 triệu USD, tương ứng giảm 7,8%;...
Tính chung từ đầu năm đến hết 15/11/2024, tổng trị giá xuất khẩu của Việt Nam đạt 352,38 tỷ USD, tăng 14,8% tương ứng tăng 45,54 tỷ USD so với cùng kỳ năm 2023.
Trong đó, một số nhóm hàng tăng như: máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tăng 12,79 tỷ USD, tương ứng tăng 26,1%; máy móc thiết bị dụng cụ và phụ tùng tăng 8,08 tỷ USD, tương ứng tăng 21,7%; hàng dệt may tăng 3,07 tỷ USD, tương ứng tăng 10,6%; gỗ và sản phẩm gỗ tăng 2,46 tỷ USD, tương ứng tăng 21,4%; điện thoại các loại và linh kiện tăng 2,25 tỷ USD, tương ứng tăng 4,8%... so với cùng kỳ năm 2023.
Số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan cũng cho thấy, trị giá xuất khẩu hàng hóa của các doanh nghiệp FDI trong kỳ 1 tháng 11/2024 đạt 12,04 tỷ USD, giảm 12,9% tương ứng giảm 1,79 tỷ USD so với kỳ 2 tháng 10/2024.
Tính đến hết ngày 15/11/2024, tổng trị giá xuất khẩu hàng hóa của nhóm các doanh nghiệp FDI đạt 252,17 tỷ USD, tăng 13%, tương ứng tăng 28,94 tỷ USD so với cùng kỳ năm trước, chiếm 72% tổng trị giá xuất khẩu của cả nước.
Từ chiều ngược lại, trị giá hàng hoá nhập khẩu của Việt Nam trong kỳ 1 tháng 11/2024 đạt 16,7 tỷ USD, giảm 5,3% (tương ứng giảm 928 triệu USD về số tuyệt đối) so với kết quả thực hiện trong nửa cuối tháng 10/2024.
Trị giá nhập khẩu hàng hóa trong kỳ 1 tháng 11/2024 giảm so với kỳ 2 tháng 10/2024 chủ yếu ở một số nhóm hàng sau: máy vi tính sản phẩm điện tử và linh kiện giảm 341 triệu USD, tương ứng giảm 6,8%; sắt thép các loại giảm 217 triệu USD, tương ứng giảm 29%;.
Tính chung từ đầu năm đến hết 15/11/2024, tổng trị giá nhập khẩu của cả nước đạt 329,1 tỷ USD, tăng 16,6% (tương ứng tăng 46,74 tỷ USD) so với cùng kỳ năm 2023.
Trong đó, một số nhóm hàng tăng mạnh như: máy vi tính, sản phẩm điện tử & linh kiện tăng 17,21 tỷ USD, tương ứng tăng 22,7%; máy móc thiết bị dụng cụ và phụ tùng tăng 6,17 tỷ USD, tương ứng tăng 17,2%; sắt thép các loại tăng 2,01 tỷ USD, tương ứng tăng 22,4%; kim lọai thường khác tăng 1,64 tỷ USD, tương ứng tăng 1,64 tỷ USD; điện thoại các loại và linh kiện tăng 1,37 tỷ USD, tương ứng tăng 18%... so với cùng kỳ năm 2023.
Trị giá nhập khẩu hàng hóa của các doanh nghiệp FDI trong kỳ này đạt 10,43 tỷ USD, giảm 5,8% (tương ứng giảm 643 triệu USD) so với kỳ 2 tháng 10/2024. Tính đến hết ngày 15/11/2024, tổng trị giá nhập khẩu của nhóm các doanh nghiệp FDI đạt 209,16 tỷ USD, tăng 15,3% (tương ứng tăng 27,79 tỷ USD) so với cùng kỳ năm 2023, chiếm 63,6% tổng trị giá nhập khẩu của cả nước.
Như vậy, với kết quả trên, trong kỳ 1 tháng 11/2024, cán cân thương mại hàng hóa thặng dư 31 triệu USD. Tính từ đầu năm đến hết ngày 15/11/2024, cán cân thương mại hàng hóa thặng dư 23,28 tỷ USD.
Trong 5 năm qua, Trung Quốc đã tăng cường sử dụng các biện pháp kiểm soát xuất khẩu, với tần suất áp dụng tăng gấp gần ba lần so với giai đoạn trước đó...
Trong quan hệ buôn bán hàng hóa với nước ngoài, Trung Quốc là thị trường mà Việt Nam nhập khẩu và nhập siêu lớn nhất. Điều này đặt ra nhiều thách thức và cơ hội cho nền kinh tế Việt Nam trong việc cân bằng cán cân thương mại và phát triển bền vững.
Theo UOB, GDP Việt Nam quý 1/2026 tăng 7,83%, vượt kỳ vọng nhờ động lực từ sản xuất, xây dựng và dịch vụ. Tăng trưởng năm 2026 được dự báo duy trì nhịp ổn định trong bối cảnh ngoại thương và FDI tích cực, trong khi các yếu tố lạm phát, năng lượng và địa chính trị vẫn đang được theo dõi...
Mời quý độc giả đón đọc Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 16-2026 phát hành ngày 20/04/2025 với nhiều chuyên mục hấp dẫn...
Căng thẳng kéo dài quanh eo biển Hormuz và việc Mỹ - Iran không đạt đột phá trong đàm phán gần đây cho thấy rủi ro lớn nhất với các nước nhập khẩu năng lượng không chỉ là biến động giá dầu, mà là khả năng bảo đảm nguồn cung trong khủng hoảng. Với Việt Nam, đây là thời điểm cần chuyển từ tư duy “mua rẻ” sang “mua chắc”.
Tọa đàm: “Cú sốc” Hormuz: Bài toán an ninh năng lượng cho Việt Nam do Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức và phát livestream trên nền tảng VnEconomy.vn, FanPage VnEconomy vào lúc 09h00 ngày 17/4/2026...
Tọa đàm: “Cú sốc” Hormuz: Bài toán an ninh năng lượng cho Việt Nam do Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức và phát livestream trên nền tảng VnEconomy.vn, FanPage VnEconomy vào lúc 09h00 ngày 17/4/2026...