Ứng phó với hạn, mặn, thiếu nước ở Đồng bằng sông Cửu Long

Mặc dù có hệ thống kênh rạch chằng chịt, nhiều nước nhưng đồng bằng sông Cửu Long lại đối mặt với tình trạng thừa nước vào mùa mưa nhưng thiếu nước ngọt trầm trọng vào mùa khô, hạn hán, xâm nhập mặn...

Ảnh minh họa
Ảnh minh họa

Hội thảo khoa học “Bảo tồn và tái tạo nguồn tài nguyên nước cho đồng bằng sông Cửu Long, tìm kiếm công nghệ và nguồn vốn quốc tế” do Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, phối hợp cùng Liên minh Tư vấn Đầu tư Quốc tế- Invest Global phối hợp với Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam tổ chức ngày 30/8/2024, đã nhận được nhiều ý kiến đóng góp từ các chuyên gia nhằm tìm lời giải cho bài toán chủ động thích ứng hạn mặn cho đồng bằng sông Cửu Long.

THỪA NƯỚC VÀO MÙA MƯA, THIẾU NƯỚC VÀO MÙA KHÔ

Đồng bằng Sông Cửu Long bao gồm 13 tỉnh/thành, là một trong những vùng nông nghiệp trọng điểm của Việt Nam, cung cấp lương thực và thực phẩm cho cả nước và xuất khẩu.

Tuy nhiên, khu vực này đang đối mặt với nhiều thách thức liên quan đến nguồn tài nguyên nước như: xâm nhập mặn và khan hiếm nước ngọt; các tác động của biến đổi khí hậu, sụt lún đất và ô nhiễm nguồn nước.

Chia sẻ thực tế này, PGS.TS Phùng Chí Sỹ, Phó chủ tịch Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam, lưu ý đồng bằng sông Cửu Long có diện tích khoảng 40.000 km2; địa hình thấp và bằng phẳng, phần lớn có độ cao trung bình từ 0,7–1,2 m so với mực nước biển. "Nguồn nước ở vùng này rất nhiều với hệ thống kênh rạch chằng chịt nhưng luôn luôn trong tình trạng thiếu nước", ông Sỹ nêu thực tế.

Hội thảo Khoa học “Bảo tồn và tái tạo nguồn tài nguyên nước cho đồng bằng sông Cửu Long, tìm kiếm công nghệ và nguồn vốn quốc tế” diễn ra sáng ngày 30/8.
Hội thảo Khoa học “Bảo tồn và tái tạo nguồn tài nguyên nước cho đồng bằng sông Cửu Long, tìm kiếm công nghệ và nguồn vốn quốc tế” diễn ra sáng ngày 30/8.

Theo Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam, hằng năm, diễn biến cực đoan của khí hậu như: các đợt hạn, độ mặn đã bắt đầu có xu hướng đến sớm hơn, với nồng độ ngày càng cao và kéo theo xâm nhập mặn sâu trong nội đồng là chuyện thường xảy ra;

Đánh giá của các chuyên gia tại hội thảo cho thấy nguồn nước của vùng chịu tác động bởi thượng nguồn (từ các nước Trung Quốc, Thái Lan, Myanmar, Campuchia, Lào) chặn nguồn làm thủy điện, thủy lợi. Bên cạnh đó, nguồn nước trong vùng còn chịu tác động bởi nước biển, nước mặn xâm nhập. Do đó, mùa mưa thì thừa nước, gây ngập lụt nhưng mùa khô lại không có nước phục vụ sinh hoạt và phát triển.

Chia đồng bằng sông Cửu Long làm 3 vùng: nước ngọt, nước mặn và nước phèn, ông Sỹ cho biết vào mùa kiệt, mùa khô, vùng này thiếu nước rất trầm trọng.

Hạn hán, nhiễm mặn ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt của trên 21 triệu dân, trong đó có trên 80% dân số sống ở vùng nông thôn.

Phân tích nguyên nhân dẫn đến tình trạng hạn, mặn tại Đồng bằng sông Cửu Long, theo chuyên gia chủ yếu do lưu lượng thượng nguồn, thủy triều, nước biển dâng, địa hình sụt lún, các yếu tố khí tượng và con người…

KẾT HỢP GIỮA GIẢI PHÁP PHI CÔNG TRÌNH VỚI GIẢI PHÁP CÔNG TRÌNH

Ở Việt Nam, Quốc hội đã ban hành Luật phòng chống thiên tai 2013 trong đó có quy định: “Căn cứ vào loại thiên tai, cấp độ rủi ro thiên tai xảy ra, Ban chỉ đạo trung ương về phòng, chống thiên tai, Ủy ban quốc gia tìm kiếm cứu nạn, Ban chỉ huy phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn các cấp quyết định lựa chọn một hoặc một số biện pháp phù hợp.

Theo Phó Chủ tịch Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam, để ứng phó đối với hạn hán và xâm nhập mặn ở miền Nam nói chung và đồng bằng sông Cửu Long nói riêng chủ yếu là điều chỉnh cơ cấu cây trồng, vật nuôi, mùa vụ phù hợp với dự báo, cảnh báo và tình hình diễn biến hạn hán và xâm nhập mặn;

PGS.TS Phùng Chí Sỹ, Phó chủ tịch Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam (người ngồi giữa) phát biểu tại hội thảo về các giải pháp ứng phó với hạn, mặn và thiếu nước ở đồng bằng sông Cửu Long.
PGS.TS Phùng Chí Sỹ, Phó chủ tịch Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam (người ngồi giữa) phát biểu tại hội thảo về các giải pháp ứng phó với hạn, mặn và thiếu nước ở đồng bằng sông Cửu Long.

Cùng với đó vận hành hợp lý hồ chứa nước, công trình cấp nước, ưu tiên cấp nước sinh hoạt; sử dụng tiết kiệm, chống thất thoát nước; ưu tiên cung cấp điện và vật tư, nhiên liệu cần thiết cho các trạm bơm. Tổ chức quan trắc độ mặn, điều hành đóng mở cống lấy nước và ngăn mặn phù hợp với tình huống cụ thể”.

PGS.TS. Phùng Chí Sỹ cũng nhấn mạnh tới giải pháp chủ động thích ứng hạn mặn, trong đó kết hợp đồng bộ và hỗ trợ lẫn nhau giữa giải pháp phi công trình với giải pháp công trình.

Cụ thể, về giải pháp phi công trình, cần tiếp tục tăng cường, hiện đại hóa công tác giám sát, dự báo chuyên ngành phục vụ cho công tác điều hành mùa vụ.

Điều chỉnh mềm dẻo lịch sản xuất theo từng mùa, từng năm trong các vùng ven biển, thậm chí trên cả đồng bằng sông Cửu Long phù hợp với dự báo nguồn nước. Đặc biệt cần thay đổi, điều chỉnh các mô hình sản xuất theo hướng ít sử dụng nước ngọt, phù hợp với điều kiện tự nhiên; quản lý nước và sản xuất hiệu quả hơn.

Cùng với đó phải có các giải pháp công trình, tiếp tục thực hiện các giải pháp nhằm tăng cường nguồn nước ngọt cho các hệ thống thủy lợi ở các vùng ven biển; tiếp tục đầu tư các công trình kiểm soát mặn, nguồn nước tại các vùng mặn đã vượt qua và tác động đến vào các vùng canh tác cây ăn trái, ông Sỹ nói.

Người dân địa phương cũng cần chủ động tích nước theo quy mô hộ gia đình, các mương, vườn; đầu tư, xây dựng mới hoặc nâng cấp, sữa chữa, mở rộng công trình hiện có; hỗ trợ các dụng cụ tích trữ nước mưa để đảm bảo đủ nước sinh hoạt cho người dân trong mùa khô.

CÔNG NGHỆ NÀO CHO XỬ LÝ HẠN, MẶN Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG?

Theo các chuyên gia, tình hình hạn hán, nhiễm mặn tại Đồng bằng sông Cửu Long là thiên tai, gây thiệt hại về người, tài sản, môi trường, điều kiện sống và các hoạt động kinh tế xã hội. Để ứng phó với hạn hán, nhiễm mặn, rất nhiều giải pháp đã và đang được thực hiện.

Để ứng phó với hạn, mặn, ông Sỹ nêu một số công nghệ như sử dụng hạt polyme siêu hấp thụ nước; chế tạo túi cao su mềm để lưu giữ nước ngọt và sử dụng máy cấp nước từ không khí hoặc xử lý nước nhiễm mặn bằng công nghệ thẩm thấu ngược (RO).

Ví dụ công nghệ hạt polyme siêu hấp thụ nước có khả năng hấp thu nước gấp từ 300-400 lần so với trọng lượng của chính nó. Ông Sỹ cho biết nếu bón 1kg vào trong đất có thể hấp thụ, tích trung bình khoảng 350 lít nước. Công nghệ này cũng có khả năng lưu giữ nước, hấp thụ nước từ 6-12 tháng.

Hạt polyme siêu giữ nước có khả năng tích lũy một lượng nước lớn, cung cấp đủ độ ẩm, độ tơi xốp, chống hạn khi thời tiết khô nóng, giúp cây trồng phát triển xanh tốt. Sử dụng polyme siêu hấp thụ nước có thể giảm đến 95% xác suất cây trồng chết vì thiếu nước…

Từ những đặc tính này, polyme siêu hấp thụ nước được xem như giải pháp “cứu cánh” trong nông nghiệp và cây trồng trong điều kiện hạn hán, nhiễm mặn, Phó Chủ tịch Hội bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam nói. Hiện nay ở Việt Nam đã có đơn vị nhập công nghệ này về nhưng giá còn đắt và chưa thực sự phổ biến.

Đối với mô hình túi chứa nước, hiện nay, vùng đồng bằng sông Cửu Long chủ yếu chứa nước bằng lu sành, vại. Túi cao su mềm chứa nước là sản phẩm đề tài nghiên cứu cấp nhà nước do Viện Nhiệt đới môi trường thực hiện, Bộ Khoa học và Công nghệ cấp kinh phí.

Nói về những ưu điểm của túi chứa nước, ông Sỹ cho biết, túi có thể thay đổi hình dáng, kích thước cho phù hợp với địa hình; có thể triển khai tại khu vực đất yếu (không cần móng), khu vực ngập lũ; không bị vỡ, bể, dễ dàng sửa chữa khi bị rách, thủng (có thể vá nguội); thời gian sử dụng lâu dài. Đây là hình thức chứa nước trong thời gian hạn mặn đang được áp dụng ở đồng bằng sông Cửu Long.

Bên cạnh đó công nghệ lọc nước từ không khí theo nguyên tắc làm lạnh không khí để ngưng tụ hơi nước có chứa trong không khí cũng có thể góp phần giải quyết, ứng phó với hạn mặn với chi phí lắp đặt thấp, giá thành khoảng 400 USD/máy quy mô hộ gia đình.

Trong điều kiện tự nhiên độ ẩm và nhiệt độ cao của Việt Nam, thiết bi tạo nước từ không khí sẽ phát huy hiệu quả cao hơn. Với những ưu điểm trên, có thể là giải pháp phù hợp với chi phí thấp để trang bị cho các khu vực khan hiếm nước tại Việt Nam. Thiết bị này đã được nhập Việt Nam.

Ông Sỹ cũng cho biết hiện nay Đại học Bách khoa Hà Nội nghiên cứu chế tạo máy sản xuất 1,5 lít nước/giờ, chảy thử trong điều kiện môi trường với nhiệt độ 25-30 độ C, độ ẩm 60%. Chi phí thiết bị khoảng 4 triệu đồng.

Ở Việt Nam, trong giai đoạn từ năm 2021 đến 2024, Bộ Khoa học và Công nghệ giao cho Trường Đại học Nguyễn Tất Thành thực hiện đề tài “Nghiên cứu xây dựng hệ thống xử lý nước nhiễm mặn có ứng dụng IoT để cấp nước sinh hoạt cho người dân vùng bị xâm nhập mặn Bến Tre và một số tỉnh lân cận”.

Hiện hệ thống xử lý nước mặn với công suất 500 m3/ngày đêm với kinh phí do Bộ Khoa học và Công nghệ hỗ trợ 80% đang được lắp đặt cho Bến Tre.

Để ứng phó với tình trạng hạn hán, nhiễm mặn ở đồng bằng sông Cửu Long, các chuyên gia cho rằng cần tiếp tục nghiên cứu, triển khai các công nghệ; triển khai xây dựng đập cao su để trữ nước ngọt, ngăn nhiễm mặn.

Cùng với đó nghiên cứu triển khai công nghệ xử lý nước nhiễm mặn bằng công nghệ chưng cất sử dụng năng lượng mặt trời;

Chuyên gia cũng nhấn mạnh vấn đề hợp tác quốc tế trong lĩnh vực nghiên cứu, chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực xử lý nước phục vụ cấp nước cho sinh hoạt và sản xuất phát triển kinh tế.

Với công nghệ xử lý nước của AquaWork, ông Sỹ nhận xét rất phù hợp và nhu cầu ở Việt Nam là rất lớn. Tuy nhiên, điều quan trọng  nhất là nguồn kinh phí để ứng dụng công nghệ này. Do đó, nếu giải pháp công nghệ này này kết hợp với bán tín chỉ carbon sẽ khả thi để ứng phó với hạn hán, thiếu nước ở đồng bằng sông Cửu Long.

Xây dựng một Việt Nam “xanh, sạch, đẹp hơn” phải bằng hành động cụ thể và sự đồng lòng

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng đề nghị các bộ, ngành, địa phương tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm, chủ trương của Đảng “phát triển nhanh nhưng phải bền vững”; “không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần”; “bảo vệ môi trường phải được đặt ở vị trí trung tâm trong quá trình hoạch định chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và phát triển kinh tế xã hội của từng ngành, từng địa phương”.

Chuyển từ phát triển kinh tế ven biển sang phát triển quốc gia hướng biển

Dựa trên hướng tiếp cận mới, các nhiệm vụ giải pháp phải có sự đột phá nhưng vẫn có tính kế thừa, thúc đẩy mạnh mẽ sự chuyển biến về nhận thức, hành động, kiến tạo thể chế, chính sách cho phát triển nhanh và bền vững kinh tế biển. Chuyển mạnh từ tư duy nặng về bảo vệ, bảo tồn sang phát triển nhanh và bền vững, chuyển từ phát triển kinh tế ven biển sang phát triển quốc gia hướng biển...

Quản trị biển hiện đại, tạo động lực mới cho phát triển kinh tế biển bền vững

Một thay đổi lớn trong Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo sửa đổi là hoàn thiện chế định giao, cho thuê và đăng ký sử dụng khu vực biển. Dự thảo luật lần đầu tiên nghiên cứu bổ sung các cơ chế như đấu giá quyền sử dụng khu vực biển, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng khu vực biển và hồ sơ hải chính...

Tháo gỡ rào cản để phát huy tiềm năng điện sinh khối từ bã mía

Điện sinh khối từ bã mía hiện chiếm hơn 95% tổng công suất điện sinh khối của Việt Nam, song đang gặp nhiều rào cản về cơ chế giá và chính sách phát triển. Mức giá mua điện thấp, quy định phân loại dự án chưa phù hợp và những vướng mắc trong cơ chế thanh toán khiến nguồn năng lượng tái tạo này chưa phát huy hết tiềm năng...

Bức tranh kinh tế của Việt Nam trong tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều chỉ số tăng trưởng tích cực. Điển hình như chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 5 tăng 8,8% so với cùng kỳ; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 11,8%....

Bí thư Thành ủy Hải Phòng: Thành phố đủ điều kiện thí điểm mô hình phát triển mới

Chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng mới, lấy phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính là quan điểm nhất quán hiện nay của Đảng và Nhà nước ta. Với đặc trưng là trung tâm cảng biển, công nghiệp... Hải Phòng có đầy đủ các điều kiện để trở thành địa phương đi đầu trong thí điểm các mô hình phát triển mới.

Bí thư Thành ủy Hải Phòng: Thành phố đủ điều kiện thí điểm mô hình phát triển mới

Chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng mới, lấy phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính là quan điểm nhất quán hiện nay của Đảng và Nhà nước ta. Với đặc trưng là trung tâm cảng biển, công nghiệp... Hải Phòng có đầy đủ các điều kiện để trở thành địa phương đi đầu trong thí điểm các mô hình phát triển mới.

Đảng Cộng sản Việt Nam - Đại hội XIV

Đảng Cộng sản Việt Nam - Đại hội XIV

Với phương châm Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Đột phá - Phát triển, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng xác định tư duy, tầm nhìn, những quyết sách chiến lược để chúng ta vững bước tiến...

VnEconomy Interactive

VnEconomy Interactive

Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...