
Truy xuất nguồn gốc tại Việt Nam là hoạt động còn khá mới, song đã và đang được triển khai. Tuy nhiên, chính sách quản lý truy xuất nguồn gốc chưa rõ ràng, nhiều doanh nghiệp cũng như người tiêu dùng hiện chưa hiểu hết ý nghĩa, chưa hiểu đúng bản chất của vấn đề truy xuất.
Những mô hình truy xuất truyền thống như nhập "hồi ký sản xuất" bằng tay để tạo QR code; sản xuất tem truy xuất dán lên sản phẩm; QR code của sản phẩm do doanh nghiệp tự công bố và trả tiền dịch vụ đưa vào lưu trữ trong cơ sở dữ liệu riêng... còn nhiều bất cập, người tiêu dùng không xem được các thông tin về truy xuất hoặc thông tin truy xuất chưa đáng tin cậy.
Chưa có quy định rõ ràng về truy xuất
Dẫn ra hàng loạt các bất cập của phương thức truy xuất nguồn gốc cũ, bà Đặng Thị Phương Ninh, Tổng Giám đốc Công ty Cofidec chỉ rõ, tính trung thực của dữ liệu truy xuất nguồn gốc hiện tại vẫn chưa được đảm bảo toàn diện trong quá trình vận hành hệ thống. Nguyên nhân nằm ở thời điểm phát sinh dữ liệu và ghi nhận diễn ra không đồng thời.
Bên cạnh đó, cách thức lưu trữ truyền thống bằng hồ sơ nên dễ phát sinh sự nhầm lẫn, thay đổi thông tin. Hệ quả là các khách hàng nhập khẩu lẫn doanh nghiệp trong nước phải tiêu tốn rất nhiều công sức và tài chính để kiểm soát hệ thống truy xuất nguồn gốc truyền thống.
Ngoài ra, các loại tem truy xuất nguồn gốc này còn dễ bị làm giả, sao chép, khiến người tiêu dùng không hoàn toàn tin tưởng, ủng hộ. Hơn nữa, các doanh nghiệp Việt Nam đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa còn gặp nhiều khó khăn trong việc tự nghiên cứu, xây dựng triển khai hệ thống truy xuất nguồn gốc cho từng sản phẩm, nhóm sản phẩm ngành hàng cụ thể.
Theo ông Đặng Hoàng An, Thứ trưởng Bộ Công Thương, cách đây ít năm, khái niệm truy xuất nguồn gốc hàng hóa trong thương mại còn xa lạ. Nhưng đến nay, nhiều thị trường như EU, Hoa Kỳ, Úc, New Zealand, Trung Quốc... đã đưa ra yêu cầu rất ngặt nghèo trong sản xuất, thương mại, trong đó vấn đề truy xuất nguồn gốc đặt ra ở một mức cao hơn nhiều.
Đặc biệt cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 bùng nổ với nhiều công nghệ tiên tiến, tính ứng dụng thực tiễn cao như công nghệ đám mây, blockchain, do đó, truy xuất nguồn gốc trở thành xu thế thời đại. Truy xuất nguồn gốc điện tử từ quần áo, mỹ phẩm, thực phẩm chức năng đến các mặt hàng nông sản, thủy sản... đã được các doanh nghiệp quan tâm.
Hình mẫu tiêu biểu của mô hình truy xuất nguồn gốc hiện đại đã và đang áp dụng thành công tại Tp.HCM là "Chương trình truy xuất nguồn gốc điện tử thịt heo" do Sở Công Thương phối với Công ty TNHH chế tạo máy và dịch vụ công nghệ cao TE thực hiện. Ngoài ra, còn truy xuất nguồn gốc cho gà, trứng từ 21 tỉnh, thành phố ở phía Nam.
Ông Lê Đại Dương, Giám đốc Công ty Ishopgo cho rằng, thị trường Việt Nam nhiều hàng giả, hàng nhái, hàng trôi nổi không rõ nguồn gốc, chính vậy niềm tin của người tiêu dùng với sản phẩm Việt rất thấp. Hiện có nhiều đơn vị làm truy xuất nguồn gốc, nhưng thực tế chưa phải truy xuất nguồn gốc mà mới chỉ cung cấp thông tin sản phẩm. Đa phần ai thích thì làm, mà vẫn chưa có quy định rõ ràng về truy xuất.
Tư duy cần thay đổi
Kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2017 của Việt Nam đạt hơn 400 tỷ USD, chứng tỏ độ mở nền kinh tế rất lớn. Việt Nam tham gia nhiều hiệp định thương mại (FTA); tuy nhiên, truy xuất nguồn gốc không chỉ phục vụ FTA mà phục vụ cả cho quản lý của Nhà nước, của doanh nghiệp trong tiêu thụ sản phẩm an toàn. Vì thế, ông An nhấn mạnh, truy xuất nguồn gốc thực sự hữu dụng bước đầu tiên là phải thay đổi tư duy quản lý nhà nước, doanh nghiệp - người tạo ra sản phẩm.
"Cơ quan quản lý nhà nước cần ban hành tiêu chuẩn thông tin truy xuất nguồn gốc hàng hóa và quy định bắt buộc truy xuất nguồn gốc hàng hóa đang lưu thông trên thị trường trong nước cũng như xuất nhập khẩu. Đơn vị nào đảm bảo truy xuất nguồn gốc mới được phát hành tem truy xuất nguồn gốc", đại diện Ishopgo đề xuất.
Ông Dương cũng nhấn mạnh, việc truy xuất nguồn gốc không phải là dán tem đơn thuần mà cần phải quản lý được toàn bộ từ khâu sản xuất đến cung ứng sản phẩm. Truy xuất nguồn gốc làm theo chuỗi tức toàn bộ quá trình tạo ra sản phẩm đó (mua miếng thịt biết lô heo nào, do đơn vị nào sản xuất, ăn thức ăn gì...), có cơ sở đảm bảo thông tin minh bạch.
Mặt khác, truy xuất nguồn gốc phải hỗ trợ được giao thương, xuất nhập khẩu và buôn bán trao đổi thông tin thương mại. Đồng thời, phải tạo được hàng rào kỹ thuật để bảo vệ thị trường trong nước, đảm bảo thị trường lành mạnh, đáp ứng được tiêu chuẩn chất lượng quốc tế.
Trong 5 năm qua, Trung Quốc đã tăng cường sử dụng các biện pháp kiểm soát xuất khẩu, với tần suất áp dụng tăng gấp gần ba lần so với giai đoạn trước đó...
Trong quan hệ buôn bán hàng hóa với nước ngoài, Trung Quốc là thị trường mà Việt Nam nhập khẩu và nhập siêu lớn nhất. Điều này đặt ra nhiều thách thức và cơ hội cho nền kinh tế Việt Nam trong việc cân bằng cán cân thương mại và phát triển bền vững.
Theo UOB, GDP Việt Nam quý 1/2026 tăng 7,83%, vượt kỳ vọng nhờ động lực từ sản xuất, xây dựng và dịch vụ. Tăng trưởng năm 2026 được dự báo duy trì nhịp ổn định trong bối cảnh ngoại thương và FDI tích cực, trong khi các yếu tố lạm phát, năng lượng và địa chính trị vẫn đang được theo dõi...
Mời quý độc giả đón đọc Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 16-2026 phát hành ngày 20/04/2025 với nhiều chuyên mục hấp dẫn...
Căng thẳng kéo dài quanh eo biển Hormuz và việc Mỹ - Iran không đạt đột phá trong đàm phán gần đây cho thấy rủi ro lớn nhất với các nước nhập khẩu năng lượng không chỉ là biến động giá dầu, mà là khả năng bảo đảm nguồn cung trong khủng hoảng. Với Việt Nam, đây là thời điểm cần chuyển từ tư duy “mua rẻ” sang “mua chắc”.
Tọa đàm: “Cú sốc” Hormuz: Bài toán an ninh năng lượng cho Việt Nam do Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức và phát livestream trên nền tảng VnEconomy.vn, FanPage VnEconomy vào lúc 09h00 ngày 17/4/2026...
Tọa đàm: “Cú sốc” Hormuz: Bài toán an ninh năng lượng cho Việt Nam do Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức và phát livestream trên nền tảng VnEconomy.vn, FanPage VnEconomy vào lúc 09h00 ngày 17/4/2026...