Theo Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Đức Thắng, chương trình thực hiện trên phạm vi toàn quốc, ưu tiên vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Thời gian thực hiện là 10 năm, chia làm 2 giai đoạn là giai đoạn 2026-2032 và giai đoạn 2032-2035.
Dự kiến tổng vốn tối thiểu thực hiện chương trình là 1,23 triệu tỷ đồng. Trong đó, vốn ngân sách địa phương các cấp (tỉnh, xã) là 400.000 tỷ đồng, chiếm 33%; vốn ngân sách trung ương hỗ trợ trực tiếp khoảng 100.000 tỷ, chiếm 8%; vốn doanh nghiệp và huy động đóng góp của cộng đồng và người dân khoảng 348.000 tỷ đồng chiếm 28%...
Theo Bộ trưởng Trần Đức Thắng, việc hợp nhất 3 chương trình có ý nghĩa quan trọng; giúp tập trung hơn vào vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi trong thời gian tới.
Đặc biệt, vùng lõi nghèo hiện nay chủ yếu là vùng sinh sống của đồng bào dân tộc thiểu số. Chương trình giảm nghèo trước đây thực hiện trên địa bàn cả nước, nay ở Chương trình này cần được tập trung đầu tư mạnh vào vùng này để giúp vùng đồng bào dân tộc thiểu số có cuộc sống tốt hơn, vươn lên thoát nghèo bền vững.
Chương trình tích hợp bảo đảm nguyên tắc “rõ chính sách, rõ địa bàn, rõ đối tượng thụ hưởng, rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm”. Đồng thời, phân cấp, phân quyền triệt để đi đôi với phân bổ nguồn lực cho chính quyền địa phương theo tinh thần “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”…
Bộ trưởng Trần Đức Thắng cho biết chương trình hướng tới mục tiêu thực hiện giảm nghèo đa chiều, bao trùm và bền vững, bảo đảm an sinh xã hội, bình đẳng giới, nâng cao thu nhập, chất lượng sống và khả năng tiếp cận dịch vụ cơ bản cho người dân; phát triển toàn diện khu vực vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; xây dựng nông thôn mới hiện đại, thực chất, gắn với đô thị hóa và thích ứng biến đổi khí hậu.
Đặc biệt, về mục tiêu giảm nghèo, chương trình phấn đấu đến năm 2030, tỷ lệ nghèo đa chiều cả nước duy trì mức giảm từ 1 đến 1,5%/năm, phấn đấu tỷ lệ hộ nghèo đa chiều vùng dân tộc thiểu số và miền núi xuống dưới 10%, tỷ lệ nghèo đa chiều ở xã nghèo giảm ít nhất 3%/năm. Đến năm 2035, tỷ lệ nghèo đa chiều cả nước duy trì mức giảm từ 1 đến 1,5%/năm theo chuẩn nghèo giai đoạn 2031-2035.
Theo Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường, chương trình gồm 2 phần, trong đó hợp phần thứ nhất là những nội dung chung nhằm xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Hợp phần thứ hai là các nội dung đặc thù phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Báo cáo thẩm tra dự án luật, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội Lâm Văn Mẫn đề nghị Chính phủ tiếp tục rà soát kỹ lưỡng đối với các mục tiêu cụ thể để không trùng lặp.
Các chỉ tiêu đưa ra phải có cơ sở, logic, có tính khả thi, phù hợp với bối cảnh mới của đất nước; thể hiện sự rõ tập trung, ưu tiên cho vùng khó khăn, lõi nghèo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi nhằm rút ngắn dần khoảng cách phát triển giữa các vùng.
Về cấu trúc chương trình, Hội đồng Dân tộc đề nghị Trung ương chỉ nên quy định khung, giao chỉ tiêu; còn các hoạt động cụ thể, chi tiết nên giao cho địa phương lựa chọn, quyết định đầu tư để phù hợp với tình hình thực tiễn của địa phương.
Hội đồng Dân tộc cũng nhấn mạnh việc lựa chọn nội dung, chính sách thực sự có tính chất mục tiêu, để tập trung nguồn lực đầu tư trọng tâm, trọng điểm như: hạ tầng dân sinh, phát triển sản xuất gắn với phát triển nông, lâm nghiệp; khoa học, công nghệ, chuyền đổi số; bảo vệ và phát triển rừng, môi trường sinh thái…
Bên cạnh đó, Hội đồng Dân tộc cơ bản thống nhất với đề xuất của Chính phủ về tổng vốn và phương án bổ sung vốn cho Chương trình. Song, đề nghị Chính phủ cân nhắc, tính toán lại cơ cấu, tỷ lệ vốn đối ứng cho phù hợp với tình hình thực tiễn của các địa phương, nhất là các tỉnh khó khăn, vùng dân tộc thiểu số và miền núi.
Hội đồng Dân tộc cũng đề nghị Quốc hội xem xét kiến nghị của Chính phủ, trong đó cho phép kéo dài thời gian thực hiện giải ngân vốn ngân sách nhà nước đối với các chương trình mục tiêu quốc gia (xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi năm 2025 (bao gồm cả vốn của các năm trước được chuyển nguồn sang năm 2025) đến hết ngày 31/12/2026, đồng thời đưa nội dung này vào Nghị quyết Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV.



Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng đề nghị các bộ, ngành, địa phương tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm, chủ trương của Đảng “phát triển nhanh nhưng phải bền vững”; “không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần”; “bảo vệ môi trường phải được đặt ở vị trí trung tâm trong quá trình hoạch định chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và phát triển kinh tế xã hội của từng ngành, từng địa phương”.
Các chuyên gia kinh tế cho rằng để đạt được mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn tới cũng như trở thành nước có thu nhập cao vào năm 2045, việc đẩy mạnh sự phát triển của khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số chính là yêu cầu cấp thiết...
Chủ trì buổi làm việc với Ban Chính sách, chiến lược Trung ương và các cơ quan liên quan về Đề án đổi mới mô hình phát triển đất nước dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh mô hình phát triển mới phải xây dựng năng lực tự chủ sáng tạo của quốc gia.
Lãnh đạo Chính phủ khẳng định, với những người chưa có điều kiện mua nhà, Nhà nước sẽ tạo điều kiện để họ thuê nhà dài hạn, ổn định, với mức giá phù hợp với thu nhập và khả năng chi trả. Nhà ở cho công nhân phải có giá cả hợp lý, đồng thời phải được quy hoạch, xây dựng đồng bộ với các thiết chế văn hóa - xã hội...
Thứ trưởng Lê Công Thành cho rằng việc bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu là nhiệm vụ lâu dài, khó khăn và phức tạp, nhưng cũng là cơ hội để Việt Nam đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao sức chống chịu của nền kinh tế và hướng tới phát triển bền vững. Đây không chỉ là yêu cầu khách quan mà còn là lựa chọn chiến lược để nâng cao chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh quốc gia...
Bức tranh kinh tế của Việt Nam trong tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều chỉ số tăng trưởng tích cực. Điển hình như chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 5 tăng 8,8% so với cùng kỳ; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 11,8%....
Chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng mới, lấy phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính là quan điểm nhất quán hiện nay của Đảng và Nhà nước ta. Với đặc trưng là trung tâm cảng biển, công nghiệp... Hải Phòng có đầy đủ các điều kiện để trở thành địa phương đi đầu trong thí điểm các mô hình phát triển mới.