Thống kê đến nay đã có 64 quốc gia trên toàn thế giới đệ trình Đóng góp do quốc gia tự quyết định- NDC thế hệ mới (NDC 3.0). Ở khu vực châu Á, trong tháng 10/2025 đã có 2 quốc gia là Malaysia và Indonesia nộp báo cáo cho Ban Thư ký Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC). Hiện nay, Việt Nam cũng đang xây dựng NDC 3.0 cho giai đoạn 2026- 2035.
Thông tin những điểm mới nổi bật nhất của các NDC thế hệ mới từ các quốc gia tại một hội nghị về vấn đề này mới đây, ông Lương Quang Huy, Trưởng Phòng Quản lý phát thải khí nhà kính và Bảo vệ tầng ozone (Cục Biến đổi khí hậu) cho biết có tới 89% các quốc gia đã tích hợp các mục tiêu tăng trưởng phát triển kinh tế vào trong NDC (tăng so với 81% trong NDC trước đó).
Mặc dù mới có khoảng 1/3 số quốc gia trên thế giới là thành viên đệ trình NDC 3.0, NDC thế hệ mới nên lượng khí nhà kính được quản lý cũng như hoạt động giảm phát thải khí nhà kính, mục tiêu NetZero còn chưa tổng kết đầy đủ để đạt được mục tiêu của Công ước Khung của Liên hợp quốc.
Theo báo cáo tổng hợp của UNFCCC, tổng mức phát thải khí nhà kính (GHG) do thực hiện các NDC mới khoảng 13.0 Gt CO2tđ vào năm 2035 (không bao gồm lĩnh vực sử dụng đất, thay đổi sử dụng đất và lâm nghiệp- LULUCF), thấp hơn 17% so với mức năm 2019.
Việc thực hiện đầy đủ tất cả các NDC mới, bao gồm cả các yếu tố có điều kiện, ước tính sẽ đưa tổng mức phát thải GHG của Nhóm NDC này xuống còn 12.3 Gt CO2tđ vào năm 2035, thấp hơn 19- 24% so với năm 2019.
Cũng theo báo cáo từ UNFCCC, phát thải GHG đạt đỉnh trước năm 2030 đối với Nhóm NDC này, và tiếp tục giảm mạnh sau đó cho đến năm 2035.
Mức phát thải gộp dự kiến cho năm 2035 của Nhóm NDC này khá phù hợp với lộ trình phát thải tuyến tính từ mức ước tính năm 2030 đến mức mục tiêu NetZero gộp. Tuy nhiên, mức giảm phát thải GHG vào năm 2035 ước tính cho Nhóm NDC này vẫn chưa đạt mức cần thiết để giới hạn sự nóng lên toàn cầu ở 1,5 độ C (phải giảm 60% so với năm 2019).
Về mặt thích ứng biến đổi khí hậu, các NDC thế hệ mới có những điểm mới. Theo đó, khoảng 73% các bên đã đưa nội dung thích ứng vào NDC, tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên như an ninh lương thực và dinh dưỡng, tài nguyên nước, y tế và hệ sinh thái.
Về tổn thất và thiệt hại, 94% các bên có nội dung thích ứng trong NDC đã đề cập đến tổn thất và thiệt hại (tăng so với 68% trong NDC trước đây), nêu rõ các rủi ro, tác động và các biện pháp.
Bên cạnh đó, 89% các NDC có kế hoạch hoặc có thể sử dụng ít nhất một trong các phạm vi hợp tác tự nguyện theo Điều 6 của Thỏa thuận Paris (tăng so với 64% trong NDC trước đây). Khoảng 70% các báo cáo của các quốc gia đã xem xét chuyển đổi công bằng trong việc chuẩn bị NDC, và phần lớn trong số đó có kế hoạch tích hợp xem xét chuyển đổi công bằng vào việc thực hiện NDC; 78% các Bên có ít nhất một đề cập rõ ràng đến đại dương trong NDC mới (tăng 39%), báo cáo của UNFCCC chỉ rõ.
Ngoài ra, các vấn đề về giới và trẻ em cũng được các quốc gia quan tâm. Theo đó, có tới 89% các quốc gia cung cấp thông tin liên quan đến giới và 80% khẳng định sẽ xem xét giới trong việc thực hiện NDC. Khoảng 88% các NDC (tăng so với 61% trong NDC trước đây) có đề cập đến sự tham gia của trẻ em và thanh niên trong xây dựng, thực hiện NDC.
Để thực hiện các NDC này, báo cáo đề cập 2 yếu tố tài chính và công nghệ, đổi mới. Đây là những yếu tố rất quan trọng để thực hiện thực chất, hiệu quả và đạt được đúng mục tiêu cam kết theo điều ước quốc tế của các quốc gia là thành viên UNFCCC.
Báo có tổng hợp của UNFCCC cho biết về mặt tài chính, 75% các bên đưa thông tin về huy động hỗ trợ tài chính cần thiết cho thực hiện NDC. Tổng chi phí cần thiết được báo cáo trong khoảng hơn 1.970–1.975 tỷ USD, trong đó nhu cầu tài chính dành cho giảm nhẹ ước tính khoảng 1.339 tỷ USD; nhu cầu tài chính dành cho thích ứng ước tính là 560,5– 564,6 tỷ USD.
Về yếu tố công nghệ, 97% các bên cung cấp thông tin về các ưu tiên và/hoặc nhu cầu công nghệ, với 73% đề cập đến các biện pháp liên quan đến đổi mới, nghiên cứu và ứng dụng công nghệ (tăng gấp đôi so với NDC trước).
Việt Nam đã xây dựng NDC từ khi bắt đầu Thỏa thuận Paris vào năm 2015. Việt Nam cũng là một trong những quốc gia đầu tiên cập nhật NDC 2022 để phù hợp với lộ trình mục tiêu phát thải ròng bằng 0. Từ đó đến nay, Việt Nam đã có các báo cáo, văn bản mới, thực hiện theo đúng trách nhiệm của nước tham gia UNFCCC, như các kế hoạch thích ứng quốc gia, báo cáo cập nhật 2 năm một lần…
Hiện nay, Việt Nam đang xây dựng Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC 3.0) cho giai đoạn 2026- 2035. Đóng góp do quốc gia tự quyết định giai đoạn 2026 - 2035 sẽ thể hiện nỗ lực cao nhất của Việt Nam, góp phần vào nỗ lực chung toàn cầu về ứng phó biến đổi khí hậu.
NDC thế hệ mới của các quốc gia đều đã tích hợp các mục tiêu tăng trưởng kinh tế của các lĩnh vực khác nhau, từ đó có ưu tiên, đưa ra biện pháp và hành động cụ thể có tính khả thi, hiệu quả căn cứ trên tình hình thực tiễn.
Ông Huy thông tin, nội dung xây dựng NDC lần này xác định 4 nhóm vấn đề chính.
Thứ nhất, giảm phát thải khí nhà kính trong các lĩnh vực Năng lượng, Nông nghiệp, LULUCF, Chất thải, Quy trình công nghiệp và sử dụng sản phẩm (IPPU).
Thứ hai, thích ứng với biến đổi khí hậu và các vấn đề liên ngành (thích ứng với biến đổi khí hậu, tổn thất và thiệt hại, các vấn đề liên ngành, lồng ghép vấn đề giới trong NDC).
Thứ ba, đánh giá tác động kinh tế xã hội.
Thứ tư, huy động nguồn lực tài chính thực hiện NDC một cách hiệu quả; đồng thời đánh giá chi phí có thể phát sinh trong quá trình triển khai thực hiện NDC 3.0.
Thực tế NDC thế hệ mới của các quốc gia đều đã tích hợp các mục tiêu tăng trưởng kinh tế của các lĩnh vực khác nhau, từ đó có ưu tiên, đưa ra biện pháp và hành động cụ thể có tính khả thi, hiệu quả căn cứ trên tình hình thực tiễn.
Cách tiếp cận trong giảm phát thải khí nhà kính của Việt Nam cũng sẽ dựa trên các yếu tố này để đảm bảo tính khả thi, hiệu quả về chi phí/lợi ích; đồng thời thực hiện đồng bộ, linh hoạt phù hợp với tình hình phát triển đất nước và sự hỗ trợ quốc tế, mang lại đồng lợi ích, hài hòa mục tiêu thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển kinh tế xã hội.
Cách tiếp cận của Việt Nam cũng đảm bảo phù hợp với kế hoạch phát triển của quốc gia và ngành giai đoạn 2021- 2030, 2026- 2030 hướng tới các mục tiêu dài hạn của Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu giai đoạn đến 2050.



Sức ép từ thị trường và xu hướng tiêu dùng mới đang buộc nhiều doanh nghiệp khởi nghiệp phải tìm kiếm những động lực phát triển bền vững hơn. Trong bối cảnh đó, đổi mới sáng tạo, R&D và khai thác lợi thế từ nguồn lực bản địa đang nổi lên như những hướng đi giàu tiềm năng...
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng đề nghị các bộ, ngành, địa phương tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm, chủ trương của Đảng “phát triển nhanh nhưng phải bền vững”; “không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần”; “bảo vệ môi trường phải được đặt ở vị trí trung tâm trong quá trình hoạch định chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và phát triển kinh tế xã hội của từng ngành, từng địa phương”.
Dựa trên hướng tiếp cận mới, các nhiệm vụ giải pháp phải có sự đột phá nhưng vẫn có tính kế thừa, thúc đẩy mạnh mẽ sự chuyển biến về nhận thức, hành động, kiến tạo thể chế, chính sách cho phát triển nhanh và bền vững kinh tế biển. Chuyển mạnh từ tư duy nặng về bảo vệ, bảo tồn sang phát triển nhanh và bền vững, chuyển từ phát triển kinh tế ven biển sang phát triển quốc gia hướng biển...
Một thay đổi lớn trong Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo sửa đổi là hoàn thiện chế định giao, cho thuê và đăng ký sử dụng khu vực biển. Dự thảo luật lần đầu tiên nghiên cứu bổ sung các cơ chế như đấu giá quyền sử dụng khu vực biển, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng khu vực biển và hồ sơ hải chính...
Điện sinh khối từ bã mía hiện chiếm hơn 95% tổng công suất điện sinh khối của Việt Nam, song đang gặp nhiều rào cản về cơ chế giá và chính sách phát triển. Mức giá mua điện thấp, quy định phân loại dự án chưa phù hợp và những vướng mắc trong cơ chế thanh toán khiến nguồn năng lượng tái tạo này chưa phát huy hết tiềm năng...
Bức tranh kinh tế của Việt Nam trong tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều chỉ số tăng trưởng tích cực. Điển hình như chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 5 tăng 8,8% so với cùng kỳ; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 11,8%....
Chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng mới, lấy phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính là quan điểm nhất quán hiện nay của Đảng và Nhà nước ta. Với đặc trưng là trung tâm cảng biển, công nghiệp... Hải Phòng có đầy đủ các điều kiện để trở thành địa phương đi đầu trong thí điểm các mô hình phát triển mới.