Năm 2025, Thanh Hóa đặt mục tiêu gieo trồng 224.300 ha lúa, năng suất dự kiến 60 tạ/ha, tổng sản lượng đạt 1.345.800 tấn. So với năm 2024, diện tích lúa giảm còn 87,8% và sản lượng đạt 97,17%.
Trong 6 tháng đầu năm 2025, địa phương này đã gieo trồng được 113.434 ha, đạt 50,6% kế hoạch năm. Năng suất bình quân đạt 67,1 tạ/ha, cao hơn đáng kể so với kế hoạch. Sản lượng lúa thu hoạch đạt 761.197 tấn, tương ứng 56,6% kế hoạch cả năm.
Vụ xuân 2025, Thanh Hóa hoàn thành với diện tích gieo trồng đạt 189.002,8 ha, trong đó có 112.000 ha lúa. Tính đến tháng 1/2025, diện tích lúa đã gieo cấy là 23.308 ha, tập trung chủ yếu tại các huyện Nông Cống, Nghi Sơn, Quảng Xương, Triệu Sơn. Vụ Chiêm Xuân 2023 ghi nhận năng suất 67 tạ/ha, sản lượng 759.483,6 tấn.
Thanh Hóa hiện duy trì hơn 150.000 ha lúa thâm canh năng suất chất lượng cao. Tỉnh đã phát triển giống lúa Japonica J02 của Nhật Bản tại huyện Thiệu Hóa với quy mô 500 ha. Các vùng sản xuất tập trung chiếm khoảng 80.000 ha, đóng vai trò làm nền tảng cho việc tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị.
Toàn tỉnh hiện có 8 doanh nghiệp lớn thu mua, chế biến lúa gạo, với tổng công suất thiết kế 274.600 tấn mỗi năm. Trong số này, có 3 nhà máy chế biến quy mô lớn với tổng công suất 180.000 tấn mỗi năm. So với năm trước, số lượng doanh nghiệp giảm nhưng tổng công suất tăng thêm hơn 25.000 tấn.
Ngoài chế biến gạo, Thanh Hóa còn phát triển sản phẩm từ phụ phẩm ngành lúa gạo. Điển hình là nhà máy chế biến sữa gạo lứt của Công ty CP Mía đường Lam Sơn, công suất 120 triệu hộp 250 ml mỗi năm. Việc đầu tư vào chế biến sâu góp phần nâng cao giá trị gia tăng và đa dạng hóa sản phẩm từ lúa gạo.
Sản lượng lúa được các nhà máy thu mua chế biến chiếm khoảng 16,8% tổng sản lượng lúa của tỉnh. Dù tỷ lệ này chưa cao, nhưng các doanh nghiệp đang tích cực mở rộng vùng liên kết sản xuất với người dân. Tỉnh hiện có khoảng 10.000 ha lúa liên kết chuỗi, trong đó có 280 ha lúa hữu cơ tại thị trấn Thiệu Hóa, 40 ha lúa chất lượng cao tại Thiệu Hóa, 200 ha lúa VietGAP tại Nông Cống.
Công ty CP Thương mại Sao Khuê là đơn vị tiêu biểu với nhà máy chế biến lúa gạo có công suất lớn nhất miền Bắc, tiêu thụ từ 25.000 đến 30.000 tấn gạo mỗi năm. Công ty liên kết sản xuất với hơn 1.000 ha vùng nguyên liệu, chủ yếu tại các huyện Thiệu Hóa, Yên Định, Đông Sơn.
Hiện Thanh Hóa có 12 sản phẩm gạo được công nhận OCOP 3 sao, 4 sao. Một số sản phẩm đặc trưng như gạo nếp cái hoa vàng Gia Miêu Ngoại Trang, gạo Tiên Sơn, gạo sạch Hương Quê, gạo nếp Cay Nọi, nếp hạt cau Lộc Thịnh được thị trường ưa chuộng. Các sản phẩm chế biến từ gạo như miến gạo Thăng Long (Nông Cống), bánh lá răng bừa Xuân Lập (Thọ Xuân) đã được xác lập quyền sở hữu trí tuệ.
Thị trường tiêu thụ lúa gạo của Thanh Hóa hiện vẫn tập trung vào thị trường nội địa, chiếm khoảng 90% sản lượng. Lúa gạo được tiêu thụ qua các kênh như thương lái, hợp tác xã, doanh nghiệp chế biến, đồng thời cung cấp cho các cơ sở chế biến thực phẩm, sản xuất thức ăn chăn nuôi, làm giống và dự trữ quốc gia.
Từ cuối tháng 12/2024, giá lúa gạo trong nước có xu hướng giảm theo thị trường thế giới, khiến sức tiêu thụ chậm lại. Tình trạng nông dân bán lúa qua trung gian vẫn phổ biến, gây khó khăn trong kiểm soát giá và chất lượng.
Dù vậy, hoạt động xuất khẩu đã ghi nhận những tín hiệu tích cực. Tháng 11/2024, lô gạo đầu tiên của Thanh Hóa được xuất khẩu chính ngạch sang Singapore. Hiện có 3 doanh nghiệp được chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo gồm Công ty CP Mía đường Lam Sơn, Công ty CP Đầu tư phát triển VinaGreen và Công ty TNHH Thực phẩm Công nghệ cao Tâm Phú Hưng.
Năm 2024, tổng lượng gạo xuất khẩu của tỉnh đạt 500 tấn, kim ngạch 329.000 USD. Trong đó, Công ty CP Mía đường Lam Sơn xuất khẩu 300 tấn, Công ty Tâm Phú Hưng 200 tấn. Sang năm 2025, hoạt động xuất khẩu tiếp tục mở rộng sang thị trường châu Âu. Sáu tháng đầu năm 2025, Công ty VinaGreen đã xuất khẩu 150 tấn gạo ST25 và Đài Thơm 8 sang Đức và Séc, kim ngạch đạt 99.868,528 Euro.
UBND tỉnh Thanh Hóa đang đẩy mạnh xây dựng vùng nguyên liệu đạt chuẩn GlobalGAP và hữu cơ để kết nối với các doanh nghiệp xuất khẩu lớn. Mục tiêu là đưa gạo Thanh Hóa vào các thị trường cao cấp như Nhật Bản, châu Âu và Mỹ. Đồng thời, tỉnh khuyến khích doanh nghiệp đầu tư chế biến sâu, nâng tỷ lệ chế biến gạo chất lượng cao phục vụ xuất khẩu chính ngạch.
Tại World Dairy Innovation Awards 2026 (Giải thưởng Đổi mới sáng tạo ngành Sữa toàn cầu 2026) diễn ra trong khuôn khổ Hội nghị Sữa toàn cầu tại Barcelona (Tây Ban Nha), vượt qua nhiều tên tuổi lớn của ngành sữa thế giới, Vinamilk đã giành 5 giải thưởng từ 17 đề cử lọt vào vòng chung kết. Theo ông Richard Hall, Chủ tịch Global Dairy Congress và World Dairy Innovation Awards, đây là một kỳ tích chưa có tiền lệ trong suốt 20 năm tổ chức trao giải.
Năm thứ 3 liên tiếp được ghi nhận trong Fortune Southeast Asia 500 (Fortune SEA 500), Vinamilk lần nữa khẳng định sức mạnh của thương hiệu sữa Việt khi góp mặt trong danh sách vốn được thống lĩnh bởi các doanh nghiệp tài chính và năng lượng.
Thị trường vận tải biển quốc tế từ đầu tháng 5/2026 đến nay đang chứng kiến đợt tăng giá cước mạnh trên nhiều tuyến vận chuyển trọng điểm, đặc biệt là các tuyến kết nối châu Á với Bắc Mỹ và châu Âu. Đối với ngành thủy sản Việt Nam, đây là diễn biến đáng lo ngại bởi logistics luôn là một trong những khoản chi phí lớn nhất trong cơ cấu giá thành xuất khẩu...
Trước chuỗi cú sốc vĩ mô liên tiếp, những doanh nghiệp tăng cường vị thế quản lý tiền mặt và tài chính ngay bây giờ sẽ ở vị thế tốt nhất để vượt qua giai đoạn chuyển tiếp - và sẵn sàng cho những gì sắp tới.
Thực tế cho thấy, những đổi mới vật liệu giá trị nhất thường bắt nguồn từ việc giải quyết các bài toán vận hành cụ thể. Việc nâng cao hiệu suất sử dụng thông qua phụ gia, tích hợp chức năng và hợp tác đồng phát triển đang dần định nghĩa lại cách thức đổi mới vật liệu…
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Nhận diện đầy đủ các cơ hội, thách thức mà khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đặt ra cho việc xây dựng mô hình phát triển Việt Nam, gắn tăng trưởng kinh tế với đổi mới quản trị quốc gia và cải thiện chất lượng đời sống nhân dân đang là vấn đề quan trọng được cấp thiết làm rõ.