Theo số liệu được Cục Thống kê (Bộ Tài chính) công bố sáng 10/6, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) quý 3/2025 ước tăng 10,0% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,2%; ngành khai khoáng tăng 8,2%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 9,8% và ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 5,3%.
Tính chung 9 tháng năm 2025, IIP ước tăng 9,1% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2024 tăng 8,4%). Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 10,4% (cùng kỳ năm 2024 tăng 9,6%), đóng góp 8,4 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 6,1% (cùng kỳ năm 2024 tăng 10,8%), đóng góp 0,6 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,8% (cùng kỳ năm 2024 tăng 9,7%), đóng góp 0,1 điểm phần trăm; ngành khai khoáng tăng 0,1% (cùng kỳ năm 2024 giảm 6,9%), đóng góp 0,01 điểm phần trăm.
Chỉ số sản xuất 9 tháng năm 2025 của một số ngành công nghiệp trọng điểm cấp II tăng so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất xe có động cơ tăng 26,0%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 17,3%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 15,6%; sản xuất trang phục tăng 13,5%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 12,7%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 12,5%; sản xuất kim loại tăng 11,3%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 10,6%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 10,4%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy và chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa... cùng tăng 10,3%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 9,4%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 7,9%.
Ở chiều ngược lại, chỉ số IIP của một số ngành tăng thấp hoặc giảm: Sản xuất đồ uống tăng 3,8%; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 4,7%.
Báo cáo của Cục Thống kê cũng ghi nhận, chỉ số sản xuất công nghiệp 9 tháng năm 2025 so với cùng kỳ năm trước tăng ở cả 34 địa phương. Một số địa phương có chỉ số IIP đạt mức tăng khá cao do ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; ngành sản xuất và phân phối điện tăng cao.
Ở chiều ngược lại, một số địa phương có chỉ số IIP tăng thấp do ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; ngành khai khoáng và ngành sản xuất, phân phối điện tăng thấp hoặc giảm.
Trong 9 tháng năm 2025, một số sản phẩm công nghiệp chủ lực tăng so với cùng kỳ năm trước, gồm: ô tô tăng 52,7%; ti vi tăng 21,8%; phân hỗn hợp NPK tăng 15,9%; xi măng tăng 15,3%; thép cán tăng 14,7%; quần áo mặc thường và giày, dép da cùng tăng 14,4%; thức ăn cho thủy sản tăng 14,2%; đường kính tăng 12,8%. Ở chiều ngược lại, một số sản phẩm giảm so với cùng kỳ năm trước: Khí đốt thiên nhiên dạng khí giảm 8,3%; vải dệt từ sợi nhân tạo giảm 2,4%; dầu mỏ thô khai thác giảm 1,1% .
Về chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 9/2025, Cục Thống kê cho biết tăng 0,1% so với tháng trước và tăng 9,3% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng năm 2025, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,1% so với cùng kỳ năm 2024 (cùng kỳ năm 2024 tăng 12,5%).
Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 30/9/2025 ước tăng 4,9% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 13,3% so với cùng thời điểm năm trước (cùng thời điểm năm trước tăng 8,5%). Tỷ lệ tồn kho toàn ngành chế biến, chế tạo bình quân chín tháng năm 2025 là 82,3% (bình quân cùng kỳ năm 2024 là 76,8%).
Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/9/2025 tăng 1,2% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 4,5% so với cùng thời điểm năm trước. Trong đó, lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 0,1% và tăng 2,6%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 0,8% và tăng 2,9%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 1,4% và tăng 5,2%.
Theo ngành hoạt động, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng không đổi so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 1,4% so với cùng thời điểm năm trước; ngành chế biến, chế tạo tăng 1,2% và tăng 4,7%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đều tăng 0,1% và tăng 4,7%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,2% và tăng 1,5%.
Trong 5 năm qua, Trung Quốc đã tăng cường sử dụng các biện pháp kiểm soát xuất khẩu, với tần suất áp dụng tăng gấp gần ba lần so với giai đoạn trước đó...
Trong quan hệ buôn bán hàng hóa với nước ngoài, Trung Quốc là thị trường mà Việt Nam nhập khẩu và nhập siêu lớn nhất. Điều này đặt ra nhiều thách thức và cơ hội cho nền kinh tế Việt Nam trong việc cân bằng cán cân thương mại và phát triển bền vững.
Theo UOB, GDP Việt Nam quý 1/2026 tăng 7,83%, vượt kỳ vọng nhờ động lực từ sản xuất, xây dựng và dịch vụ. Tăng trưởng năm 2026 được dự báo duy trì nhịp ổn định trong bối cảnh ngoại thương và FDI tích cực, trong khi các yếu tố lạm phát, năng lượng và địa chính trị vẫn đang được theo dõi...
Mời quý độc giả đón đọc Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 16-2026 phát hành ngày 20/04/2025 với nhiều chuyên mục hấp dẫn...
Căng thẳng kéo dài quanh eo biển Hormuz và việc Mỹ - Iran không đạt đột phá trong đàm phán gần đây cho thấy rủi ro lớn nhất với các nước nhập khẩu năng lượng không chỉ là biến động giá dầu, mà là khả năng bảo đảm nguồn cung trong khủng hoảng. Với Việt Nam, đây là thời điểm cần chuyển từ tư duy “mua rẻ” sang “mua chắc”.
Tọa đàm: “Cú sốc” Hormuz: Bài toán an ninh năng lượng cho Việt Nam do Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức và phát livestream trên nền tảng VnEconomy.vn, FanPage VnEconomy vào lúc 09h00 ngày 17/4/2026...
Tọa đàm: “Cú sốc” Hormuz: Bài toán an ninh năng lượng cho Việt Nam do Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức và phát livestream trên nền tảng VnEconomy.vn, FanPage VnEconomy vào lúc 09h00 ngày 17/4/2026...