Trong bối cảnh Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới với áp lực đồng thời từ tăng trưởng kinh tế, biến đổi khí hậu và cam kết phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050 thì việc chuyển đổi xanh là vấn đề rất quan trọng.
Việc Chính phủ Việt Nam, Quỹ Phát triển Nông nghiệp Quốc tế (IFAD) và Quỹ Khí hậu Xanh (GCF) khởi động Dự án Giảm thiểu khí thải tại Tây Nguyên và Duyên hải Nam Trung Bộ (RECAF) với tổng vốn 102,5 triệu USD đã mang ý nghĩa vượt ra ngoài một dự án môi trường thuần túy.
Theo ông Frew Behabtu, Quyền Giám đốc Quốc gia IFAD tại Việt Nam, RECAF đặt người nông dân và cộng đồng phụ thuộc vào rừng ở vị trí trung tâm của các giải pháp khí hậu một cách tiếp cận cho thấy hành động khí hậu chỉ bền vững khi song hành với sinh kế và phát triển kinh tế.
Nhìn từ góc độ kinh tế, RECAF cho thấy sự chuyển dịch tư duy coi bảo vệ rừng và giảm phát thải là một hình thức đầu tư cho tăng trưởng dài hạn, thay vì là chi phí cần bù đắp. Dự án RECAF được triển khai tại những khu vực vừa có vai trò kinh tế quan trọng, vừa chịu rủi ro môi trường cao như Đắk Lắk, Gia Lai, Lâm Đồng. Có thể nói đây là các vùng sản xuất nông nghiệp chủ lực, đặc biệt là cà phê, nhưng cũng là nơi chịu tác động nặng nề từ mất rừng, suy thoái đất và biến đổi khí hậu.
Theo ông Nguyễn Minh Huấn, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đắk Lắk, việc kết hợp bảo vệ rừng với sản xuất nông nghiệp bền vững không chỉ giúp người dân nâng cao thu nhập, mà còn bảo vệ tài nguyên cho các thế hệ tương lai. Nhận định này cho thấy dự án RECAF đang chuyển bảo vệ rừng từ “nghĩa vụ” sang “động lực phát triển”.
Về mặt kinh tế học, các mô hình nông lâm kết hợp mà RECAF thúc đẩy cho phép đa dạng hóa nguồn thu, giảm rủi ro sản xuất và nâng cao hiệu quả sử dụng đất. Khi nông hộ không còn phụ thuộc vào một loại cây trồng đơn lẻ, khả năng chống chịu trước biến động thị trường và khí hậu được cải thiện đáng kể.
RECAF đặt mục tiêu giảm 6,68 triệu tấn CO₂ tương đương, chuyển đổi 145.000 ha đất lâm nghiệp và bảo vệ 500.000 ha rừng tự nhiên. Tuy nhiên, giá trị kinh tế thực sự nằm ở chỗ dự án góp phần bảo toàn “vốn tự nhiên”, yếu tố nền tảng cho năng suất nông nghiệp và an ninh sinh kế lâu dài.
Việc dự án ưu tiên phụ nữ, thanh niên và đồng bào dân tộc thiểu số cũng phản ánh một lựa chọn chính sách có tính kinh tế với nghĩa tăng trưởng bền vững khi mang tính bao trùm, giảm bất bình đẳng và hạn chế các chi phí xã hội phát sinh trong dài hạn.
Dự án RECAF là ví dụ điển hình về cách Việt Nam tiếp cận nguồn tài chính để ứng phó biến đổi khí hậu (tài chính khí hậu). Dự án kết hợp vốn vay ưu đãi của IFAD với viện trợ không hoàn lại của GCF, tạo ra một cấu trúc tài chính vừa bảo đảm tính ưu đãi, vừa giảm áp lực lên ngân sách nhà nước.
Theo bà Nguyễn Thị Diệu Trinh, Phó Cục trưởng Cục Quản lý nợ và Kinh tế đối ngoại (Bộ Tài chính), đây là cách tiếp cận tài chính phát triển hiện đại, giúp tối đa hóa tác động tại các địa bàn khó khăn mà vẫn duy trì kỷ luật tài khóa.
Từ góc độ các nhà tài trợ, ông Frederic Wiltmann, Trưởng khu vực Đông Nam Á của GCF, cho rằng RECAF cho thấy tài chính khí hậu có thể tạo ra tác động thực chất cho cả con người và thiên nhiên thông qua sử dụng đất bền vững. Nhận định này cũng hàm ý rằng hiệu quả của vốn khí hậu phụ thuộc lớn vào năng lực thiết kế và làm chủ chính sách của quốc gia tiếp nhận.
Về dài hạn, RECAF gửi đi một thông điệp chính sách rõ ràng: kinh tế xanh của Việt Nam không thể tách rời nông thôn và nông nghiệp. Khi hơn một nửa dân số vẫn sống ở khu vực nông thôn, mọi chiến lược tăng trưởng xanh nếu không đi qua sinh kế nông dân sẽ khó đạt được tính bền vững.
Từ RECAF, có thể thấy một hướng đi khả thi cho giai đoạn tới là nhân rộng các mô hình kinh tế dựa vào thiên nhiên, nơi rừng, đất và tri thức địa phương được coi là tài sản tạo giá trị. Ở nghĩa đó, RECAF không chỉ là một dự án 6 năm, mà là một phép thử cho mô hình tăng trưởng xanh mà Việt Nam đang theo đuổi.
Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng xanh và bền vững, RECAF cho thấy một cách tiếp cận thực tế và khả thi: lấy tài nguyên thiên nhiên làm nền tảng, tài chính khí hậu làm đòn bẩy và sinh kế nông thôn làm trung tâm.
Dự án không chỉ góp phần thực hiện các cam kết khí hậu quốc gia, mà còn mở ra hướng tái cấu trúc kinh tế nông thôn theo hướng hiệu quả, bao trùm và có khả năng chống chịu cao hơn trước các cú sốc môi trường và thị trường. Nếu được nhân rộng và gắn chặt với cải cách thể chế, RECAF có thể trở thành hình mẫu cho kinh tế xanh tại Việt Nam trong thập kỷ tới.
Sức ép từ thị trường và xu hướng tiêu dùng mới đang buộc nhiều doanh nghiệp khởi nghiệp phải tìm kiếm những động lực phát triển bền vững hơn. Trong bối cảnh đó, đổi mới sáng tạo, R&D và khai thác lợi thế từ nguồn lực bản địa đang nổi lên như những hướng đi giàu tiềm năng...
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng đề nghị các bộ, ngành, địa phương tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm, chủ trương của Đảng “phát triển nhanh nhưng phải bền vững”; “không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần”; “bảo vệ môi trường phải được đặt ở vị trí trung tâm trong quá trình hoạch định chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và phát triển kinh tế xã hội của từng ngành, từng địa phương”.
Dựa trên hướng tiếp cận mới, các nhiệm vụ giải pháp phải có sự đột phá nhưng vẫn có tính kế thừa, thúc đẩy mạnh mẽ sự chuyển biến về nhận thức, hành động, kiến tạo thể chế, chính sách cho phát triển nhanh và bền vững kinh tế biển. Chuyển mạnh từ tư duy nặng về bảo vệ, bảo tồn sang phát triển nhanh và bền vững, chuyển từ phát triển kinh tế ven biển sang phát triển quốc gia hướng biển...
Một thay đổi lớn trong Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo sửa đổi là hoàn thiện chế định giao, cho thuê và đăng ký sử dụng khu vực biển. Dự thảo luật lần đầu tiên nghiên cứu bổ sung các cơ chế như đấu giá quyền sử dụng khu vực biển, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng khu vực biển và hồ sơ hải chính...
Điện sinh khối từ bã mía hiện chiếm hơn 95% tổng công suất điện sinh khối của Việt Nam, song đang gặp nhiều rào cản về cơ chế giá và chính sách phát triển. Mức giá mua điện thấp, quy định phân loại dự án chưa phù hợp và những vướng mắc trong cơ chế thanh toán khiến nguồn năng lượng tái tạo này chưa phát huy hết tiềm năng...
Bức tranh kinh tế của Việt Nam trong tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều chỉ số tăng trưởng tích cực. Điển hình như chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 5 tăng 8,8% so với cùng kỳ; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 11,8%....
Chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng mới, lấy phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính là quan điểm nhất quán hiện nay của Đảng và Nhà nước ta. Với đặc trưng là trung tâm cảng biển, công nghiệp... Hải Phòng có đầy đủ các điều kiện để trở thành địa phương đi đầu trong thí điểm các mô hình phát triển mới.