Phòng ngừa, kiểm soát, ngăn chặn từ sớm, từ xa các nguy cơ gây ô nhiễm, sự cố môi trường

Việc thực hiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường kể từ khi Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 có hiệu lực thi hành đã đạt được một số kết quả tích cực, tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế phải giải quyết...

Quốc hội thảo luận về Báo cáo của Đoàn Giám sát và dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về kết quả giám sát chuyên đề “việc thực hiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường kể từ khi Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 có hiệu lực thi hành”.
Quốc hội thảo luận về Báo cáo của Đoàn Giám sát và dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về kết quả giám sát chuyên đề “việc thực hiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường kể từ khi Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 có hiệu lực thi hành”.

Tiếp tục Chương trình Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV, ngày 28/10/2025 Quốc hội thảo luận tại hội trường về Báo cáo của Đoàn Giám sát và dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về kết quả giám sát chuyên đề “việc thực hiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường kể từ khi Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 có hiệu lực thi hành”. 

NHỮNG KẾT QUẢ TÍCH CỰC BƯỚC ĐẦU VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

Báo cáo kết quả giám sát chuyên đề “Việc thực hiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường kể từ khi Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 có hiệu lực thi hành”, Tổng Thư ký Quốc hội, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Lê Quang Mạnh nêu rõ: việc ban hành và thực hiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường kể từ khi Luật bảo vệ môi trường năm 2020 có hiệu lực thi hành đã đạt được nhiều kết quả tích cực, quan trọng, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội bền vững, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại, an sinh xã hội và hội nhập quốc tế.

Về hoàn thiện thể chế, chính sách, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương đã ban hành hơn 500 văn bản hướng dẫn và triển khai thi hành Luật Bảo vệ môi trường, trong đó, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành đã ban hành hơn 30 văn bản. Qua đó đã cơ bản thể chế và cụ thể hóa đầy đủ các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu.

Chiến lược và Quy hoạch bảo vệ môi trường quốc gia lần đầu được xây dựng; hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn môi trường được cập nhật, tiệm cận quốc tế.

Tổng Thư ký Quốc hội, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Lê Quang Mạnh trình bày Báo cáo kết quả giám sát “Việc thực hiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường kể từ khi Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 có hiệu lực thi hành”.
Tổng Thư ký Quốc hội, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Lê Quang Mạnh trình bày Báo cáo kết quả giám sát “Việc thực hiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường kể từ khi Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 có hiệu lực thi hành”.

Về kết quả thực hiện, nhiều chỉ tiêu bảo vệ môi trường đạt và vượt kế hoạch, như thu gom rác thải đô thị, xử lý nước thải khu công nghiệp, tỷ lệ che phủ rừng. Chi ngân sách môi trường không thấp hơn 1% tổng chi ngân sách nhà nước và tăng qua các năm; nguồn lực xã hội hóa được huy động mạnh mẽ.

Về quản lý chất thải, các nguồn thải lớn đã được kiểm soát chủ động và chặt chẽ, không để xảy ra sự cố môi trường lớn; đã xuất hiện nhiều mô hình đô thị, nông thôn, khu công nghiệp, cụm công nghiệp, làng nghề, cơ sở sản xuất sinh thái, thân thiện với môi trường. Bên cạnh đó, tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt đạt 97,26% ở đô thị, 80,5% ở nông thôn; giảm chôn lấp, tăng tái chế và thu hồi năng lượng.

Đối với việc cải thiện chất lượng môi trường, tốc độ gia tăng ô nhiễm, suy thoái môi trường đã được ngăn chặn, chất lượng môi trường từng bước cải thiện, đặc biệt là chất lượng môi trường đất, môi trường nước mặt một số lưu vực sông chính, nước biển ven bờ, nước dưới đất.

Về ứng phó biến đổi khí hậu đã có chuyển biến tích cực, nâng cao khả năng thích ứng, triển khai kiểm kê khí nhà kính, thúc đẩy chuyển đổi xanh hướng tới phát thải ròng bằng 0 năm 2050. Hành lang pháp lý thị trường carbon được hình thành; Đồng bằng sông Cửu Long có nhiều giải pháp thích ứng cụ thể.

NHỮNG HẠN CHẾ KHIẾN NHIỀU MỤC TIÊU MÔI TRƯỜNG QUAN TRỌNG CHƯA ĐẠT 

Mặc dù đã đạt được những kết quả tích cực, song Đoàn giám sát cũng nhận thấy việc tổ chức thực hiện Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 vẫn còn một số hạn chế, bất cập.

Vấn đề ô nhiễm môi trường còn nghiêm trọng. Ô nhiễm không khí, nhất là bụi mịn ở các thành phố lớn như Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh, nhiều thời điểm vượt ngưỡng an toàn. Ô nhiễm nước sông ở các lưu vực như sông Cầu, Nhuệ - Đáy, Bắc Hưng Hải chậm được cải thiện. 

Theo Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng, đến năm 2025, 100% cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng phải được xử lý, nhưng đến tháng 9/2025, cả nước vẫn còn 38/435 cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng chưa hoàn thành xử lý triệt để.

Đến tháng 9/2025, cả nước vẫn còn 38/435 cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng chưa hoàn thành xử lý triệt để.

Ngoài ra, hạ tầng bảo vệ môi trường còn yếu và lạc hậu. Chỉ 18% nước thải đô thị được thu gom, xử lý; chôn lấp rác vẫn chiếm tỷ lệ cao. Mới 31,5% cụm công nghiệp và 16,6% làng nghề có hệ thống xử lý nước thải đạt yêu cầu.

Chính sách phân loại, thu gom, tái chế rác triển khai chậm, thiếu đồng bộ; hạ tầng tái chế chất thải đặc thù (điện tử, pin, tấm quang năng) còn hạn chế. Công nghệ sản xuất lạc hậu, tiêu tốn năng lượng, tài nguyên; vẫn còn nhập khẩu trái phép công nghệ cũ. Ngoài ra, tái chế, tái sử dụng cũng còn hạn chế; việc tuần hoàn, tái sử dụng nước thải và chất thải rắn công nghiệp chưa hiệu quả.

Đáng chú ý, một số mục tiêu chính sách chưa đạt. Thuế, phí bảo vệ môi trường chưa thực sự thay đổi hành vi tiêu dùng. Quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam hoạt động chưa hiệu quả, chưa thúc đẩy được các dự án môi trường.

Đại biểu Chu Thị Hồng Thái, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Lạng Sơn, phát biểu thảo luận.
Đại biểu Chu Thị Hồng Thái, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Lạng Sơn, phát biểu thảo luận.

Dịch vụ tư vấn môi trường còn yếu, chất lượng thấp. Khiếu nại, vi phạm pháp luật về môi trường vẫn phức tạp. Xuất hiện nhiều vụ việc xả thải, xử lý rác, khí thải, dự án nghĩa trang gây bức xúc, ảnh hưởng đời sống dân cư. Chính quyền địa phương chủ yếu yêu cầu giảm tác động mà chưa có giải pháp căn bản, dẫn đến tình trạng ô nhiễm kéo dài và mất trật tự xã hội.

Theo báo cáo, nguyên nhân hạn chế trong công tác bảo vệ môi trường gồm khách quan và chủ quan.

Về khách quan, do ảnh hưởng của dịch Covid-19, biến động kinh tế, đô thị hóa nhanh, biến đổi khí hậu cực đoan, tác động toàn cầu hóa, hạn chế về công nghệ, và khó khăn trong phát triển thị trường carbon.

Về chủ quan, do nhận thức, trách nhiệm về bảo vệ môi trường của một số cấp, ngành và doanh nghiệp còn hạn chế, vẫn ưu tiên tăng trưởng kinh tế hơn môi trường; pháp luật thiếu đồng bộ, chính sách triển khai chậm, nguồn lực tài chính chưa đáp ứng, công nghệ, tiêu chuẩn kỹ thuật lạc hậu, nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả chưa được thực hiện nghiêm, và lộ trình thực hiện một số nội dung trọng điểm (như thị trường carbon, chuyển đổi năng lượng) còn chậm.

Một số nguyên nhân khác bao gồm chậm phát triển thị trường và công nghiệp công nghệ môi trường, công nghệ sản xuất lạc hậu, tuyên truyền và giáo dục pháp luật chưa hiệu quả, phân công và phối hợp giữa các cơ quan chưa chặt chẽ, năng lực và hạ tầng còn yếu, đội ngũ cán bộ môi trường thiếu chuyên nghiệp. Bên cạnh đó, thanh tra, xử lý vi phạm chưa đủ mạnh, chế tài còn nhẹ, và sự tham gia của cộng đồng, các tổ chức xã hội trong bảo vệ môi trường còn yếu và chưa sâu rộng.

ĐỀ XUẤT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG NĂM 2020

Trên cơ sở chỉ ra nguyên nhân của hạn chế, bất cập, Báo cáo kết quả giám sát đã nêu rõ các nhiệm vụ, giải pháp đột phá, đó là: Đổi mới tư duy và hoàn thiện thể chế, chính sách về bảo vệ môi trường và tổ chức thực thi quyết liệt, hiệu lực, hiệu quả. Tăng cường và đa dạng hóa nguồn lực cho bảo vệ môi trường. Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu.

Về nhiệm vụ, giải pháp cấp bách hoàn thành đến cuối năm 2026, báo cáo nêu rõ việc tổng kết, đánh giá việc thực hiện và đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, trình Quốc hội xem xét, thông qua đầu nhiệm kỳ Quốc hội Khóa XVI.

Giải pháp trung và dài hạn đến năm 2030, cần phòng ngừa, kiểm soát và ngăn chặn từ sớm, từ xa các nguy cơ gây ô nhiễm, sự cố môi trường. Kiểm soát chặt chẽ yêu cầu về môi trường đối với các dự án đầu tư; nâng cao chất lượng hoạt động thẩm định, đánh giá công nghệ sản xuất để kiểm soát, ngăn chặn hiệu quả việc nhập khẩu công nghệ cũ, lạc hậu, có nguy cơ gây ô nhiễm vào Việt Nam

Trước mắt, xem xét sửa đổi ngay một số điều của Luật này tại Kỳ họp thứ Mười để góp phần khơi thông nguồn lực, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; đồng thời sửa đổi quy định về lộ trình, thời gian áp dụng đối với các chính sách liên quan đến quản lý chất thải rắn sinh hoạt cho phù hợp yêu cầu thực tế. Rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật có liên quan như thuế, phí bảo vệ môi trường, ngân sách nhà nước, đầu tư...

Tổ chức rà soát, đánh giá và cập nhật, điều chỉnh (trong trường hợp cần thiết) các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch có liên quan đến bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu để đáp ứng yêu cầu “mở rộng và kiến tạo không gian phát triển mới”, tăng trưởng kinh tế 2 con số trên cơ sở bảo đảm nguyên tắc xuyên suốt không đánh đổi môi trường lấy phát triển kinh tế đơn thuần, tôn trọng quy luật tự nhiên…

Nhiệm vụ, giải pháp trung và dài hạn đến năm 2030, Báo cáo nhấn mạnh việc phòng ngừa, kiểm soát và ngăn chặn từ sớm, từ xa các nguy cơ gây ô nhiễm, sự cố môi trường; dự báo sớm tác động của biến đổi khí hậu.

Trong đó, kiểm soát chặt chẽ yêu cầu về môi trường đối với các dự án đầu tư; nâng cao chất lượng hoạt động thẩm định, đánh giá công nghệ sản xuất để kiểm soát, ngăn chặn hiệu quả việc nhập khẩu công nghệ cũ, lạc hậu, có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường vào Việt Nam; giám sát chặt chẽ, phòng ngừa đối với cơ sở thuộc loại hình có nguy cơ gây ô nhiễm, sự cố môi trường cao; cơ sở năng lượng nguyên tử, cơ sở hạt nhân.

Đồng thời, khắc phục, cải thiện chất lượng môi trường có trọng tâm, trọng điểm; tăng cường hiệu quả quản lý chất thải rắn và chất thải nguy hại; hoàn thiện thể chế, chính sách ứng phó với biến đổi khí hậu; nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu; tăng cường năng lực tổ chức bộ máy quản lý về bảo vệ môi trường.

Xây dựng một Việt Nam “xanh, sạch, đẹp hơn” phải bằng hành động cụ thể và sự đồng lòng

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng đề nghị các bộ, ngành, địa phương tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm, chủ trương của Đảng “phát triển nhanh nhưng phải bền vững”; “không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần”; “bảo vệ môi trường phải được đặt ở vị trí trung tâm trong quá trình hoạch định chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và phát triển kinh tế xã hội của từng ngành, từng địa phương”.

Chuyển từ phát triển kinh tế ven biển sang phát triển quốc gia hướng biển

Dựa trên hướng tiếp cận mới, các nhiệm vụ giải pháp phải có sự đột phá nhưng vẫn có tính kế thừa, thúc đẩy mạnh mẽ sự chuyển biến về nhận thức, hành động, kiến tạo thể chế, chính sách cho phát triển nhanh và bền vững kinh tế biển. Chuyển mạnh từ tư duy nặng về bảo vệ, bảo tồn sang phát triển nhanh và bền vững, chuyển từ phát triển kinh tế ven biển sang phát triển quốc gia hướng biển...

Quản trị biển hiện đại, tạo động lực mới cho phát triển kinh tế biển bền vững

Một thay đổi lớn trong Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo sửa đổi là hoàn thiện chế định giao, cho thuê và đăng ký sử dụng khu vực biển. Dự thảo luật lần đầu tiên nghiên cứu bổ sung các cơ chế như đấu giá quyền sử dụng khu vực biển, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng khu vực biển và hồ sơ hải chính...

Tháo gỡ rào cản để phát huy tiềm năng điện sinh khối từ bã mía

Điện sinh khối từ bã mía hiện chiếm hơn 95% tổng công suất điện sinh khối của Việt Nam, song đang gặp nhiều rào cản về cơ chế giá và chính sách phát triển. Mức giá mua điện thấp, quy định phân loại dự án chưa phù hợp và những vướng mắc trong cơ chế thanh toán khiến nguồn năng lượng tái tạo này chưa phát huy hết tiềm năng...

Bức tranh kinh tế của Việt Nam trong tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều chỉ số tăng trưởng tích cực. Điển hình như chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 5 tăng 8,8% so với cùng kỳ; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 11,8%....

Bí thư Thành ủy Hải Phòng: Thành phố đủ điều kiện thí điểm mô hình phát triển mới

Chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng mới, lấy phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính là quan điểm nhất quán hiện nay của Đảng và Nhà nước ta. Với đặc trưng là trung tâm cảng biển, công nghiệp... Hải Phòng có đầy đủ các điều kiện để trở thành địa phương đi đầu trong thí điểm các mô hình phát triển mới.

Bí thư Thành ủy Hải Phòng: Thành phố đủ điều kiện thí điểm mô hình phát triển mới

Chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng mới, lấy phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính là quan điểm nhất quán hiện nay của Đảng và Nhà nước ta. Với đặc trưng là trung tâm cảng biển, công nghiệp... Hải Phòng có đầy đủ các điều kiện để trở thành địa phương đi đầu trong thí điểm các mô hình phát triển mới.

Đảng Cộng sản Việt Nam - Đại hội XIV

Đảng Cộng sản Việt Nam - Đại hội XIV

Với phương châm Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Đột phá - Phát triển, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng xác định tư duy, tầm nhìn, những quyết sách chiến lược để chúng ta vững bước tiến...

VnEconomy Interactive

VnEconomy Interactive

Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...