Đây là đề xuất của các doanh nghiệp sản xuất viên nén tại tọa đàm về sản xuất và xuất khẩu viên nén do Hiệp hội Gỗ và lâm sản phối hợp với Forest Trends tổ chức chiều 22/10.
TS Tô Xuân Phúc, chuyên gia của Forest Trends, cho biết trong những năm gần đây, lượng viên nén xuất khẩu mỗi năm đạt trên dưới 3 triệu tấn, 350 triệu USD về kim ngạch. Trong 8 tháng năm 2021 lượng xuất khẩu viên nén đạt 2,4 triệu tấn, đem về 273 triệu USD.
Bình quân mỗi năm có trên 70 doanh nghiệp xuất khẩu viên nén. Tuy nhiên, con số doanh nghiệp tham gia khâu xuất khẩu trong 8 tháng năm 2021 chỉ là 59. "Sự suy giảm này có thể là do tác động của sự bùng phát trở lại của dịch Covid-19 tại Việt Nam bắt đầu từ tháng 5 vừa qua", TS Phúc nhận định.
Hiện nay, Hàn Quốc và Nhật Bản là thị trường nhập khẩu viên nén quan trọng nhất của Việt Nam, với lượng xuất sang 2 thị trường này chiếm trên 90% trong tổng lượng viên nén xuất khẩu hàng năm.
Thị trường Hàn Quốc có quy mô lớn hơn so với thị trường Nhật Bản. Tuy nhiên, mức độ ổn định tại thị trường Nhật Bản lại cao hơn. Thực tế, thị trường Hàn Quốc chứa đựng một số khía cạnh bấp bênh, có độ sụy giảm rất mạnh trong năm 2019 và kể từ đó không có tín hiệu tăng trưởng trở lại.
“Điều này có thể làm các doanh nghiệp xuất khẩu sẽ dịch chuyển từ thị trường Hàn Quốc sang thị trường Nhật Bản, hoặc ít nhất cũng cố gắng để tham gia cả 2 thị trường. Tuy nhiên, số doanh nghiệp tham gia cùng một lúc cả 2 thị trường là rất nhỏ, năm 2020 chỉ có 10 doanh nghiệp tham gia cả 2 thị trường”. TS Tô Xuân Phúc thông tin.
Có 6 doanh nghiệp có quy mô xuất khẩu rất lớn, với lượng xuất của mỗi doanh nghiệp đạt trên 100.000 tấn/năm, và tổng lượng xuất của 6 doanh nghiệp này đạt 1,96 triệu tấn, chiếm 61% trong tổng lượng xuất của cả ngành.
Trong khi đó, có 40 doanh nghiệp (chiếm 54% trong tổng doanh nghiệp tham gia xuất khẩu) có lượng xuất rất nhỏ, dưới 10.000 tấn/doanh nghiệp, với tổng lượng xuất của 40 doanh nghiệp này chiếm 2% trong tổng lượng xuất khẩu.
TS. Phúc cho rằng, ngành viên nén còn dư địa để phát triển nhanh trong nhiều năm tới.
Thứ nhất, nhu cầu tiêu thụ viên nén tại Nhật Bản sẽ tiếp tục tăng trong tương lai. Theo một số doanh nghiệp xuất khẩu, lượng viên nén tại thị trường này sẽ có thể mở rộng gấp 3 lần cho tới năm 2024-2025 so với hiện nay.
Thứ hai, ngành có tiềm năng trong việc nâng cao tỷ trọng sản phẩm có chứng chỉ FSC, điều này có thể đạt được thông qua hình thức hợp tác giữa các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu với các hộ trồng rừng để tạo nguồn gỗ chứng chỉ.
Đồng tình với nhận định trên, ông Vũ Thanh Tùng, Giám đốc Công ty SMART WOOD VIET NAM JSC, chia sẻ thêm chúng tôi là một trong những doanh nghiệp trực tiếp xuất khẩu sang thị trường Hàn Quốc. Đến năm 2023 một loạt các dự án nhiệt điện ở nước Nhật đi vào hoạt đông sử dụng 100% viên nén.
Dự báo đến năm 2023 nhu cầu viên nén của Hàn Quốc khoảng 4,5 triệu tấn/năm; Nhật bản 5 triệu tấn/năm. Như vậy, thị trường cho xuất khẩu viên nén sẽ còn rộng mở.
Tuy nhiên ông Tùng nêu vấn đề, hiện giá viên nén xuất khẩu của Việt Nam thấp, có thể nói là thấp nhất khu vực Đông Nam Á, không phải vì cung vượt cầu, mà vì các doanh nghiệp Việt Nam không đoàn kết.
Hiện giá xuất khẩu vào thị trường Hàn Quốc thấp là bởi thị trường này áp dụng cơ chế đấu giá khi mua sản phẩm, với các doanh nghiệp chào mức giá thấp nhận được các hợp đồng cung sản phẩm.
"Sau khi nhận được các hợp đồng này, các doanh nghiệp quay trở lại các nhà sản xuất tại Việt Nam và đẩy mức giá sản phẩm xuống thấp, nhằm đáp ứng các hợp đồng mà họ đã ký kết với người mua”, ông Tùng phản ánh thực tế.
Trong khi đó, các nhà máy nhiệt điện ở Nhật không mua theo cơ chế đấu giá, mà họ sang Việt Nam thỏa thuận và ký hợp đồng mua trực tiếp từ các doanh nghiệp sản xuất viên nén.
“Nhật họ vào, nghiên cứu rất kỹ các đơn vị cung cấp, mất 3 năm đánh giá rồi sau đó mới ký hợp đồng mua hàng. Họ thường đưa ra hợp đồng trong thời gian 10-15 năm với mức giá cao hơn so với giá Hàn Quốc mua”, ông Tùng thông tin.
Ông Nguyễn Quốc Anh, chủ một doanh nghiệp sản xuất viên nén ở Nghệ An, cho biết Công ty được Chính quyền Nghệ An quy hoạch 35 nghìn ha rừng trồng của nông dân tại 4 huyện, để liên kết thu mua nguyên liệu.
“Chúng tôi đang cùng với huyện Thanh Chương triển khai cùng các hộ trồng rừng làm chứng chỉ rừng bền vững FSC, cố gắng sẽ có 17.000 ha rừng đạt chứng chỉ FSC trong thời gian tới”, ông Quốc Anh dự tính.
Nguồn nguyên liệu cho sản xuất viên nén chủ yếu là phế phẩm của ngành chế biến gỗ: dăm vụn, vỏ bào, mùn cưa….Do đó, ông Quốc Anh kiến nghị Nhà nước cần có chính sách kiềm chế xuất khẩu dăm gỗ, để có nguyên liệu cho sản xuất viên nén đem lại giá trị gia tăng cao hơn.
Bổ sung thêm, ông Vũ Xuân Ban, Giám đốc Công ty WelHunt ở tỉnh Quảng Ninh cho rằng, hiện nay viên nén sản xuất tại Việt Nam chủ yếu để xuất khẩu, tiêu thụ trong nước rất ít. Các nhà máy nhiệt điện ở Việt Nam đang phải sử dụng lượng than rất lớn, lên tới hàng chục triệu tấn mỗi năm. Nếu các doanh nghiệp chuyển đổi từ công nghệ hơi đốt than sang sử dụng nguyên liệu viên nén, thì dư địa của ngành viên nén sẽ rất lớn.
Ông Ban kiến nghị các cơ quan chức năng của Nhà nước cần quan tâm đến ngành viên nén, cần nhanh chóng xây dựng quy hoạch ngành, quy hoạch vùng nguyên liệu phù hợp với công suất của các nhà máy được xây dựng.
Các doanh nghiệp tham gia tọa đàm đều cho rằng, cần hình thành một tổ chức đại diện cho các doanh nghiệp ngành sản xuất viên nén. Có thể là chi hội viên trực thuộc Vifores, sẽ trực tiếp góp phần vào việc điều tiết các hoạt động sản xuất và xuất khẩu của ngành trong tương lai.
Tổ chức đại diện sẽ có vai trò kết nối các doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu, tạo tiếng nói chung giữa các doanh nghiệp, điều tiết thị trường đầu ra sản phẩm. Chi hội viên nén sẽ đóng vai trò đầu mối thông tin, cung cấp cho các doanh nghiệp thành viên thông tin về thị trường đầu ra sản phẩm, bao gồm thông tin về nhu cầu và các yêu cầu pháp lý và bền vững về sản phẩm




Từ khâu chăn nuôi, giết mổ, vận chuyển đến tiêu thụ, thịt gia cầm lưu thông trên toàn địa bàn TP.Hồ Chí Minh sẽ từng bước được nhận diện và truy xuất nguồn gốc bằng công nghệ số. Mục tiêu nhằm xây dựng hệ thống dữ liệu truy xuất minh bạch, kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý an toàn thực phẩm và kiểm soát chất lượng sản phẩm...
Trong bối cảnh nguồn cung ứng và hạ tầng truyền tải phải vận hành chạm ngưỡng giới hạn, tiết kiệm điện không còn là khẩu hiệu mang tính phong trào hay giải pháp ứng phó tạm thời, mà đã trở thành một yêu cầu cấp bách, một "nguồn năng lượng" đặc biệt cần được khai thác một cách thường xuyên và đồng bộ để bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia...
Theo lộ trình triển khai, từ ngày 1/7/2026, thương nhân thực hiện đăng ký tài khoản, nhận mã định danh và xác thực thông tin sản phẩm trên hệ thống. Từ ngày 1/1/2027, việc truy xuất nguồn gốc phải được thực hiện đầy đủ trước khi các sản phẩm, hàng hóa thuộc diện áp dụng được đưa ra lưu thông trên thị trường...
Chiều 12/6/2026, Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia ban hành Công văn số 22-BCĐ-BNNMT, yêu cầu UBND các tỉnh, thành phố khu vực Bắc Bộ cùng hai tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An chủ động triển khai các biện pháp ứng phó với mưa lớn, lũ quét, sạt lở đất, lốc, sét, mưa đá và ngập lụt...
Trong 5 tháng đầu năm 2026, ngành rau quả Việt Nam ghi nhận mức tăng trưởng tích cực khi kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 2,69 tỷ USD, tăng 16,8% so với cùng kỳ năm 2025. Kết quả này đạt được trong bối cảnh thương mại nông sản toàn cầu còn nhiều biến động, đồng thời phản ánh xu hướng chuyển dịch tích cực trong cơ cấu xuất khẩu khi tỷ trọng sản phẩm chế biến ngày càng gia tăng.
Bức tranh kinh tế của Việt Nam trong tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều chỉ số tăng trưởng tích cực. Điển hình như chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 5 tăng 8,8% so với cùng kỳ; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 11,8%....
Trong bối cảnh thương mại toàn cầu biến động mạnh và xu hướng tái cấu trúc chuỗi cung ứng ngày càng rõ nét, quan hệ kinh tế Việt Nam – Trung Quốc đang bước vào một giai đoạn chuyển đổi quan trọng nhất là sau đại hội 14 của Đảng. Không chỉ dừng ở giao thương hàng hóa, các hoạt động xúc tiến thương mại sẽ gắn chặt với chuyển đổi số, liên kết sản xuất và định vị lại vai trò của doanh nghiệp trong chuỗi giá trị khu vực. Trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam, ông Bùi Quang Hưng, Phó Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại, đã làm rõ những xu hướng mới, các động lực từ FTA, cũng như cơ hội và thách thức đặt ra trong giai đoạn tới.