Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang lấy ý kiến nhân dân đối với dự thảo Nghị định quy định về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng. Nghị định quy định về đối tượng, hình thức, mức chi trả; xác định lượng kết quả giảm phát thải và tín chỉ carbon rừng được cung ứng; quản lý sử dụng tiền dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, qua gần 3 năm thực hiện Nghị định số 107/2022/NĐ-CP ngày 28/12/2022 của Chính phủ về thí điểm chuyển nhượng kết quả giảm phát thải và quản lý tài chính thỏa thuận chi trả giảm phát thải khí nhà kính vùng Bắc Trung Bộ, cho thấy đây là chính sách được xây dựng và tổ chức thực hiện xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của sản xuất và đời sống, tạo nguồn thu mới để đầu tư vào bảo vệ và phát triển rừng.
Việc thực hiện Nghị định đã có tác động lan tỏa, tạo ra hiệu ứng tích cực, phù hợp với quy luật của nền kinh tế thị trường, mang lại động lực, lợi ích chung cho cộng đồng; mở rộng hợp tác với các đối tác, chương trình, dự án quốc tế, tranh thủ sự hỗ trợ về kỹ thuật, tài chính để triển khai dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng trong phạm vi toàn quốc.
Tuy nhiên, trong dự thảo tờ trình, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng chỉ rõ việc tổ chức triển khai còn gặp một số khó khăn, vướng mắc, như: sử dụng nguồn tiền từ chuyển nhượng kết quả giảm phát thải của chủ rừng là tổ chức, xác định đối tượng được hưởng lợi, mức chi trả, chi phí trang trải cho các hoạt động liên quan đến vận hành chương trình, như: đo đạc, báo cáo, thẩm định kết quả giảm phát thải; kiểm tra, giám sát carbon rừng...
Ngày 31/10/2022, dưới sự chứng kiến của Thủ tướng Chính phủ tại Hội nghị COP26, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) đã ký Ý định thư với Tổ chức Tăng cường tài chính Lâm nghiệp (Emergent),Cơ quan hành chính của Liên minh giảm phát thải thông qua tăng cường tài chính lâm nghiệp (LEAF), dự kiến chuyển nhượng 5,15 triệu tấn CO2 ở vùng Nam Trung Bộ và vùng Tây Nguyên với mức giá 10 USD/tấn CO2, từ năm 2022 đến năm 2026.
Bên cạnh đó, hiện nay, một số đối tác quốc tế đang tích cực hợp tác với Bộ Nông nghiệp và Môi trường để trao đổi, thảo luận về ký kết thoả thuận trao đổi tín chỉ carbon.
Một số địa phương (Quảng Nam, Lào Cai, Sơn La...) đã được Thủ tướng Chính phủ đồng ý chủ trương thí điểm xây dựng Đề án đối với dịch vụ hấp thụ, lưu giữ carbon của rừng, nhưng cho đến nay không triển khai được do chưa có khung pháp lý về trao đổi, chuyển nhượng kết quả giảm phát thải, tín chỉ carbon rừng áp dụng trong phạm vi toàn quốc.
Xuất phát từ thực tế trên, việc xây dựng Nghị định quy định về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng là cần thiết nhằm tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho các địa phương, các chủ rừng đóng góp vào nỗ lực giảm phát thải khí nhà kính thông qua việc tham gia trao đổi, chuyển nhượng kết quả giảm phát thải, tín chỉ carbon rừng, tạo nguồn thu mới để đầu tư vào công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng; nâng cao thu nhập cho người làm nghề rừng.
Dự thảo Nghị định quy định 5 nguyên tắc, trong đó có nguyên tắc kết quả giảm phát thải, tín chỉ carbon rừng đã được trao đổi, chuyển nhượng theo hợp đồng hoặc trên sàn giao dịch carbon trong nước thì bên cung ứng không được trao đổi, chuyển nhượng cho các bên sử dụng khác; nguyên tắc này phù hợp với thông lệ quốc tế để tránh bán tín chỉ 2 lần. Ngoài ra, việc quản lý sử dụng nguồn thu từ carbon rừng phù hợp với quy định tại Luật Lâm nghiệp.
Tờ trình dự thảo Nghị định nêu rõ bên cung ứng vẫn theo quy định tại Nghị định 156/2018/NĐ-CP, tuy nhiên bên sử dụng dịch vụ mở rộng một số đối tượng. Trong dự thảo tờ trình, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phân tích, theo Luật Lâm nghiệp năm 2017, bên sử dụng dịch vụ là “Tổ chức, cá nhân hoạt động sản xuất, kinh doanh gây phát thải khí nhà kính lớn”.
Theo Nghị định số 06/2022/NĐ-CP ngày 7/1/2022 của Chính phủ quy định giảm phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ô-dôn đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 119/2025/NĐ-CP ngày 9/6/2025, các doanh nghiệp bị thiếu hạn ngạch sẽ mua tín chỉ carbon trên thị trường carbon trong nước để bù trừ tối đa 30% hạn ngạch.
Do đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho rằng nếu chỉ quy định bên sử dụng là “cơ sở phát thải lớn” thì nhu cầu mua bị giới hạn do tỷ lệ được bù trừ và sự cạnh tranh của carbon rừng với các loại tín chỉ khác (nông nghiệp, chăn nuôi, năng lượng, giao thông, rác thải…).
Bên cạnh đó, các đối tác quốc tế có nhu cầu mua tín chỉ carbon rừng của Việt Nam; nhiều doanh nghiệp trong nước “phát thải ít” (không phải thực hiện kiểm kê, không được phân bổ hoặc đấu giá hạn ngạch) cũng có nhu cầu mua kết quả giảm phát thải, tín chỉ carbon rừng để thực hiện mục tiêu cam kết tự nguyện.
Về điều kiện đối với bên cung ứng là phải tạo ra kết quả giảm phát thải, tín chỉ carbon rừng, phải thực hiện nghĩa vụ đóng góp vào giảm phát thải khí nhà kính do quốc gia tự quyết định (NDC) và các nghĩa vụ khác. Đối với bên sử dụng, là tổ chức hoạt động hợp pháp và thực hiện các nội dung theo hợp đồng hoặc cơ chế vận hành của sàn giao dịch carbon trong nước.
Về hình thức chi trả, do đặc thù của loại hàng hóa là tín chỉ carbon rừng, nên ngoài chi trả theo hợp đồng còn bổ sung hình thức chi trả theo cơ chế vận hành sàn giao dịch carbon trong nước, được coi là hình thức chi trả trực tiếp.
Dự thảo Nghị định quy định mức chi trả là giá trao đổi, chuyển nhượng 1 tấn CO2 hoặc 1 tín chỉ carbon rừng, được tính bằng đồng Việt Nam hoặc ngoại tệ khác.
Dự thảo cũng quy định việc xác định giá trao đổi, chuyển nhượng dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng. Theo đó, đối với rừng thuộc sở hữu toàn dân: dự thảo quy định Bộ Nông nghiệp và Môi trường quy định phương pháp định giá dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng, UBND cấp tỉnh ban hành bảng giá carbon đối với rừng thuộc phạm vi quản lý của địa phương.
Giá này làm căn cứ xác định giá khởi điểm trên sàn giao dịch carbon hoặc đấu giá trước khi ký hợp đồng cung ứng, vì giá dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon rừng có nhiều biến động, nên không quy định mức giá cụ thể như 4 loại dịch vụ môi trường rừng khác theo quy định tại Nghị định 156/2018/NĐ-CP mà trên cơ sở vận dụng quy định của Luật Giá năm 2023 đề xuất cơ quan nhà nước định giá.
Đối với rừng không thuộc sở hữu toàn dân, dự thảo khuyến khích áp dụng hướng dẫn định giá để định giá dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng đối với rừng sản xuất là rừng trồng thuộc sở hữu của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư.
Dự thảo Nghị định cũng quy định việc triển khai dự án carbon rừng theo tiêu chuẩn carbon trong nước và quốc tế để phù hợp với Nghị định số 119/2025/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 06/2022/NĐ-CP.
Ngoài ra, dự thảo Nghị định quy định trường hợp chủ rừng sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng nằm xen kẽ, liền kề với diện tích rừng thuộc sở hữu toàn dân có nhu cầu tham gia dự án carbon rừng do Bộ Nông nghiệp và Môi trường hoặc UBND cấp tỉnh triển khai, thì chủ rừng thực hiện cam kết tham gia và có biên bản xác nhận.
Đối với quy định về xác định lượng kết quả giảm phát thải, tín chỉ carbon rừng được cung ứng từ dự án carbon rừng, Bộ Nông nghiệp và Môi trường thông tin, hiện tại, lĩnh vực lâm nghiệp được phân bổ lượng giảm phát thải 3,5% trong tổng số cam kết NDC 15,8% (tập trung vào diện tích rừng thuộc sở hữu toàn dân). Do vậy, việc trao đổi, chuyển nhượng kết quả giảm phát thải, tín chỉ carbon rừng phải đảm bảo nguyên tắc đóng góp đủ lượng NDC được phân bổ cho lĩnh vực lâm nghiệp (3,5%).
Từ thực tế trên, dự thảo quy định Bộ Nông nghiệp và Môi trường phân bổ hạn ngạch NDC cho địa phương; xác định lượng kết quả giảm phát thải hoặc tín chỉ carbon rừng được cung ứng đối với dự án carbon rừng do UBND cấp tỉnh triển khai; xác định lượng kết quả giảm phát thải hoặc tín chỉ carbon rừng được cung ứng đối với dự án carbon rừng do Bộ Nông nghiệp và Môi trường triển khai sau khi thực hiện nghĩa vụ đóng góp giảm phát thải do quốc gia tự quyết định đã được phân bổ cho tỉnh.
UBND cấp tỉnh phân bổ hạn ngạch NDC cho các chủ rừng và xác định lượng kết quả giảm phát thải hoặc tín chỉ carbon rừng được cung ứng đối với dự án carbon rừng do tổ chức triển khai thuộc phạm vi quản lý của tỉnh.




Sức ép từ thị trường và xu hướng tiêu dùng mới đang buộc nhiều doanh nghiệp khởi nghiệp phải tìm kiếm những động lực phát triển bền vững hơn. Trong bối cảnh đó, đổi mới sáng tạo, R&D và khai thác lợi thế từ nguồn lực bản địa đang nổi lên như những hướng đi giàu tiềm năng...
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng đề nghị các bộ, ngành, địa phương tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm, chủ trương của Đảng “phát triển nhanh nhưng phải bền vững”; “không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần”; “bảo vệ môi trường phải được đặt ở vị trí trung tâm trong quá trình hoạch định chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và phát triển kinh tế xã hội của từng ngành, từng địa phương”.
Dựa trên hướng tiếp cận mới, các nhiệm vụ giải pháp phải có sự đột phá nhưng vẫn có tính kế thừa, thúc đẩy mạnh mẽ sự chuyển biến về nhận thức, hành động, kiến tạo thể chế, chính sách cho phát triển nhanh và bền vững kinh tế biển. Chuyển mạnh từ tư duy nặng về bảo vệ, bảo tồn sang phát triển nhanh và bền vững, chuyển từ phát triển kinh tế ven biển sang phát triển quốc gia hướng biển...
Một thay đổi lớn trong Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo sửa đổi là hoàn thiện chế định giao, cho thuê và đăng ký sử dụng khu vực biển. Dự thảo luật lần đầu tiên nghiên cứu bổ sung các cơ chế như đấu giá quyền sử dụng khu vực biển, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng khu vực biển và hồ sơ hải chính...
Điện sinh khối từ bã mía hiện chiếm hơn 95% tổng công suất điện sinh khối của Việt Nam, song đang gặp nhiều rào cản về cơ chế giá và chính sách phát triển. Mức giá mua điện thấp, quy định phân loại dự án chưa phù hợp và những vướng mắc trong cơ chế thanh toán khiến nguồn năng lượng tái tạo này chưa phát huy hết tiềm năng...
Bức tranh kinh tế của Việt Nam trong tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều chỉ số tăng trưởng tích cực. Điển hình như chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 5 tăng 8,8% so với cùng kỳ; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 11,8%....
Chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng mới, lấy phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính là quan điểm nhất quán hiện nay của Đảng và Nhà nước ta. Với đặc trưng là trung tâm cảng biển, công nghiệp... Hải Phòng có đầy đủ các điều kiện để trở thành địa phương đi đầu trong thí điểm các mô hình phát triển mới.