Tại hội thảo Tham vấn khu vực về Khung Đầu tư Tiểu vùng Mekong mở rộng (GMS)- khu vực hợp tác giữa Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanmar và Trung Quốc- trong lĩnh vực môi trường diễn ra ngày 4-5/11, đại diện các bộ ngành từ 6 quốc gia, các tổ chức quốc tế và chuyên gia đã cùng bàn giải pháp hợp tác, đầu tư cho môi trường và khí hậu hướng tới phát triển bền vững khu vực.
Theo đại diện Viện Chiến lược và Chính sách Nông nghiệp và Môi trường, đây là thời điểm then chốt khi khu vực Mekong đang đối mặt với nhiều vấn đề như biến đổi khí hậu, suy thoái môi trường và khai thác tài nguyên thiếu bền vững. Những thách thức này đã hiện hữu, tác động đến cảnh quan, sinh kế và tương lai thịnh vượng của khu vực.
Tiểu vùng Mekong mở rộng, từ thượng nguồn đến đồng bằng, từ rừng núi đến vùng biển, là khu vực giàu tài nguyên nhưng đang chịu áp lực lớn. Vì vậy, Chiến lược GMS 2030 về Hành động khí hậu và Phát triển bền vững môi trường được xem như “kim chỉ nam” giúp các nước chuyển từ nỗ lực riêng lẻ sang hợp tác tích hợp và xuyên biên giới.
Ông Sumit Pokhrel, chuyên gia cao cấp về Tài nguyên thiên nhiên và Nông nghiệp, Ngân hàng Phát triển châu Á, nhấn mạnh GMS có cơ hội trở thành “đầu tàu khu vực” trong đầu tư thích ứng khí hậu và phát triển tích cực với thiên nhiên, đặc biệt trong bối cảnh thế giới hướng tới COP30.
Theo ông, Khung Chiến lược GMS 2030 được thông qua năm 2024, kế thừa gần 20 năm hợp tác khu vực, đặt mục tiêu hướng tới một GMS bền vững, thích ứng, hài hòa với thiên nhiên, đồng thời góp phần thực hiện các cam kết quốc gia về khí hậu (NDC).
Khung chiến lược tập trung vào 4 chủ đề gồm: tăng cường khả năng chống chịu khí hậu và thiên tai; thúc đẩy chuyển đổi sang nền kinh tế carbon thấp; phát triển kinh tế xanh tuần hoàn, kiểm soát ô nhiễm; triển khai giải pháp dựa vào thiên nhiên để bảo tồn đa dạng sinh học và sinh kế.
Đại diện Ban Thư ký Chương trình Biến đổi khí hậu và Bền vững môi trường Tiểu vùng Mekong mở rộng (CCESP), chỉ rõ khu vực Mekong là điểm nóng đa dạng sinh học nhưng cũng là khu vực dễ tổn thương nhất, với nguy cơ mất tới 11% GDP vào cuối thế kỷ nếu không có hành động khẩn cấp.
Chương trình đang thúc đẩy ba trụ cột chính: xác định ưu tiên đầu tư giữa các quốc gia; huy động nguồn vốn linh hoạt từ cả khu vực công và tư; chia sẻ tri thức, củng cố chính sách.
Đến nay, Chương trình đã thực hiện 12 dự án tăng cường khả năng chống chịu cộng đồng, hai dự án trình diễn về vận tải xanh và nông nghiệp carbon thấp, cùng các sáng kiến kiểm soát ô nhiễm xuyên biên giới.
Chuyên gia này thông tin trong giai đoạn mới, Chương trình CCESP sẽ chuyển từ hoạt động riêng lẻ sang cách tiếp cận tích hợp theo hệ thống cảnh quan- sinh thái biển, nhằm hình thành các sáng kiến khu vực có tác động cao, giúp cải thiện khả năng huy động vốn và tăng hiệu quả đầu tư.
Tại hội thảo, các ý kiến cho rằng quá trình cập nhật Khung đầu tư khu vực 2025 là cơ hội để tăng cường liên kết giữa ưu tiên quốc gia và hợp tác khu vực, qua đó định hình danh mục đầu tư khả thi trình lên Hội nghị thường niên lần thứ 29 của Nhóm Công tác Môi trường GMS (WGE-AM29) diễn ra cuối năm nay.
Sức ép từ thị trường và xu hướng tiêu dùng mới đang buộc nhiều doanh nghiệp khởi nghiệp phải tìm kiếm những động lực phát triển bền vững hơn. Trong bối cảnh đó, đổi mới sáng tạo, R&D và khai thác lợi thế từ nguồn lực bản địa đang nổi lên như những hướng đi giàu tiềm năng...
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng đề nghị các bộ, ngành, địa phương tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm, chủ trương của Đảng “phát triển nhanh nhưng phải bền vững”; “không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần”; “bảo vệ môi trường phải được đặt ở vị trí trung tâm trong quá trình hoạch định chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và phát triển kinh tế xã hội của từng ngành, từng địa phương”.
Dựa trên hướng tiếp cận mới, các nhiệm vụ giải pháp phải có sự đột phá nhưng vẫn có tính kế thừa, thúc đẩy mạnh mẽ sự chuyển biến về nhận thức, hành động, kiến tạo thể chế, chính sách cho phát triển nhanh và bền vững kinh tế biển. Chuyển mạnh từ tư duy nặng về bảo vệ, bảo tồn sang phát triển nhanh và bền vững, chuyển từ phát triển kinh tế ven biển sang phát triển quốc gia hướng biển...
Một thay đổi lớn trong Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo sửa đổi là hoàn thiện chế định giao, cho thuê và đăng ký sử dụng khu vực biển. Dự thảo luật lần đầu tiên nghiên cứu bổ sung các cơ chế như đấu giá quyền sử dụng khu vực biển, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng khu vực biển và hồ sơ hải chính...
Điện sinh khối từ bã mía hiện chiếm hơn 95% tổng công suất điện sinh khối của Việt Nam, song đang gặp nhiều rào cản về cơ chế giá và chính sách phát triển. Mức giá mua điện thấp, quy định phân loại dự án chưa phù hợp và những vướng mắc trong cơ chế thanh toán khiến nguồn năng lượng tái tạo này chưa phát huy hết tiềm năng...
Bức tranh kinh tế của Việt Nam trong tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều chỉ số tăng trưởng tích cực. Điển hình như chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 5 tăng 8,8% so với cùng kỳ; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 11,8%....
Chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng mới, lấy phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính là quan điểm nhất quán hiện nay của Đảng và Nhà nước ta. Với đặc trưng là trung tâm cảng biển, công nghiệp... Hải Phòng có đầy đủ các điều kiện để trở thành địa phương đi đầu trong thí điểm các mô hình phát triển mới.