Theo khảo sát từ UBND TP. Hải Phòng, Hải Phòng có khoảng 33.096 ha rừng và đất lâm nghiệp, trong đó, có hơn 10.000 ha rừng tự nhiên, còn lại là rừng phòng hộ và rừng sản xuất. Những diện tích đất rừng có tiềm năng trong hấp thụ khí nhà kính, là “kho” dự trữ carbon. Nếu được quản lý, đo đếm khoa học, có thể khai thác, chứng nhận theo tiêu chuẩn quốc tế về tín chỉ carbon.
Sở Nông nghiệp và Môi trường TP. Hải Phòng đã tiến hành khảo sát, xác định trên địa bàn Hải Phòng có khoảng 163 cơ sở có phát thải khí nhà kính lớn, phải thực hiện giảm nhẹ theo lộ trình. Những doanh nghiệp này nếu phát thải vượt hạn ngạch sẽ phải mua tín chỉ carbon, dưới hạn ngách có thể bán. Do đó, Hải Phòng cần có cơ chế để giảm phát thải nhà kính, thúc đẩy nhu cầu và cơ chế trao đổi, bù trừ tín chỉ nhà kính.
Thời điểm năm 2022, khi nghiên cứu, xây dựng đề xuất thí điểm cơ chế, chính sách đặc thù cho Hải Phòng, các nhóm tư vấn nghiên cứu giả định rằng mỗi năm Hải Phòng phát thải 7 - 10 triệu tấn carbon. Nếu thực hiện giảm được ít nhất 43,5% lượng khí carbon so với kịch bản tăng trưởng vào năm 2030, mỗi năm, Hải Phòng sẽ giảm được 3 - 5 triệu tấn carbon phát thải. Với giá tín chỉ carbon trung bình 40 - 50 USD/tấn, mỗi năm, Hải Phòng sẽ thu được 120 - 250 triệu USD.
Hơn nữa, nếu tham gia thị trường tín chỉ carbon thành công, Hải Phòng sẽ tận dụng tốt cơ chế trao đổi, bù trừ tín chỉ carbon cho các doanh nghiệp có nhu cầu. Việc thực hiện cơ chế tín chỉ carbon sẽ khuyến khích doanh nghiệp đầu tư các dự án sản xuất điện gió, điện mặt trời, đẩy mạnh chuyển đổi phương tiện máy móc từ sử dụng năng lượng xăng dầu truyền thống sang sử dụng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo...
Theo Nghị quyết số 226/202/QH15 của Quốc hội, ngân sách thành phố Hải Phòng được hưởng 100% quỹ tín chỉ carbon và không tính vào số thu cân đối ngân sách địa phương. UBND TP. Hải Phòng cho rằng cần lập kế hoạch tài chính hàng năm để cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, thực hiện quyết toán thu theo từng ngành, lĩnh vực.
Theo đó, nguồn thu từ các dự án thuộc lĩnh vực nông lâm nghiệp sau khi được chi trả cho tổ chức, cá nhân quản lý các chương trình, dự án cùng các bên liên quan thì chỉ được chi tái đầu tư cho hoạt động quản lý, bảo vệ phát triển nông nghiệp, phát triển rừng và hỗ trợ các chương trình, hành động phát triển sinh kế bền vững…
Nguồn thu từ tín chỉ carbon, được tạo ra từ các chương trình và dự án thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, sau khi đã chi trả cho các tổ chức và cá nhân được giao quản lý, sẽ được sử dụng để mở rộng và tiếp tục triển khai các dự án đã tạo ra tín chỉ carbon.
Bên cạnh đó, một phần nguồn thu này cũng sẽ được đầu tư vào việc duy tu, bảo dưỡng, cải tạo và sửa chữa cơ sở vật chất cũng như trang thiết bị phục vụ cho các chương trình và dự án. Ngoài ra có thể hỗ trợ các chương trình và hoạt động phát triển sinh kế bền vững tại địa phương, cũng như triển khai các dự án phát triển bền vững...
Tại Việt Nam, năm 2021, tỉnh Quảng Nam (nay là thành phố Đà Nẵng) đã trở thành địa phương đầu tiên được Chính phủ đồng ý cho lập đề án thí điểm kinh doanh tín chỉ carbon. Đến năm 2023, thông qua Ngân hàng thế giới, lần đầu tiên Việt Nam đã bán thành công 10,3 triệu tín chỉ carbon với đơn giá 5 USD/tấn, thu về 51,5 triệu USD.
Sức ép từ thị trường và xu hướng tiêu dùng mới đang buộc nhiều doanh nghiệp khởi nghiệp phải tìm kiếm những động lực phát triển bền vững hơn. Trong bối cảnh đó, đổi mới sáng tạo, R&D và khai thác lợi thế từ nguồn lực bản địa đang nổi lên như những hướng đi giàu tiềm năng...
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng đề nghị các bộ, ngành, địa phương tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm, chủ trương của Đảng “phát triển nhanh nhưng phải bền vững”; “không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần”; “bảo vệ môi trường phải được đặt ở vị trí trung tâm trong quá trình hoạch định chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và phát triển kinh tế xã hội của từng ngành, từng địa phương”.
Dựa trên hướng tiếp cận mới, các nhiệm vụ giải pháp phải có sự đột phá nhưng vẫn có tính kế thừa, thúc đẩy mạnh mẽ sự chuyển biến về nhận thức, hành động, kiến tạo thể chế, chính sách cho phát triển nhanh và bền vững kinh tế biển. Chuyển mạnh từ tư duy nặng về bảo vệ, bảo tồn sang phát triển nhanh và bền vững, chuyển từ phát triển kinh tế ven biển sang phát triển quốc gia hướng biển...
Một thay đổi lớn trong Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo sửa đổi là hoàn thiện chế định giao, cho thuê và đăng ký sử dụng khu vực biển. Dự thảo luật lần đầu tiên nghiên cứu bổ sung các cơ chế như đấu giá quyền sử dụng khu vực biển, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng khu vực biển và hồ sơ hải chính...
Điện sinh khối từ bã mía hiện chiếm hơn 95% tổng công suất điện sinh khối của Việt Nam, song đang gặp nhiều rào cản về cơ chế giá và chính sách phát triển. Mức giá mua điện thấp, quy định phân loại dự án chưa phù hợp và những vướng mắc trong cơ chế thanh toán khiến nguồn năng lượng tái tạo này chưa phát huy hết tiềm năng...
Bức tranh kinh tế của Việt Nam trong tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều chỉ số tăng trưởng tích cực. Điển hình như chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 5 tăng 8,8% so với cùng kỳ; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 11,8%....
Chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng mới, lấy phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính là quan điểm nhất quán hiện nay của Đảng và Nhà nước ta. Với đặc trưng là trung tâm cảng biển, công nghiệp... Hải Phòng có đầy đủ các điều kiện để trở thành địa phương đi đầu trong thí điểm các mô hình phát triển mới.