Men theo dòng Phổ Lợi, về phường Dương Nỗ, thành phố Huế, dễ bắt gặp những thửa ruộng nằm thoai thoải bên sông. Phù sa hiền hòa qua bao mùa lũ đã bồi đắp cho vùng đất này lớp đất thịt màu mỡ, thích hợp để trồng giống nếp thơm trứ danh.
Từ xa xưa, Phú Dương – nay là phường Dương Nỗ – đã nổi tiếng với nghề trồng nếp chuyên canh phục vụ gói bánh. Có thời điểm, gần chục mẫu ruộng trong làng được quy hoạch chỉ để cấy nếp. Mỗi vụ mùa đến, cánh đồng thay màu áo mới, hương lúa quyện trong gió, báo hiệu một mùa bánh tét, bánh chưng lại chuẩn bị rộn ràng.
Theo các bậc cao niên trong làng, nghề làm bánh ở Dương Nỗ đã hình thành hàng trăm năm trước. Ban đầu, bánh được gói để phục vụ trong gia đình, họ tộc vào dịp lễ, Tết. Dần dần, tiếng thơm lan xa, bánh được mang ra chợ, rồi theo chân người buôn bán đến nhiều nơi khác. Từ chỗ làm để dùng, người dân bắt đầu làm để bán, nghề theo đó mà lớn dần.
Thời gian và quá trình đô thị hóa khiến diện tích trồng nếp thơm không còn rộng như trước. Nhưng lượng nếp còn lại vẫn đủ để duy trì nghề. Quan trọng hơn, đó là nguồn nguyên liệu “tự thân”, do chính người dân gieo cấy, chăm bón và thu hoạch. Mỗi hạt nếp vì thế không chỉ là nguyên liệu, mà còn là kết tinh của mồ hôi, công sức và niềm tự hào của người làm nghề.
Hiện nay, trên địa bàn phường Dương Nỗ có 18 hộ thường xuyên gói bánh tét, bánh chưng, thu hút hơn 100 lao động tham gia ổn định. Ngoài ra, còn hơn 50 hộ sản xuất, kinh doanh không thường xuyên, chủ yếu phục vụ thị trường trong thành phố Huế và các tỉnh, thành phía Nam. Vào dịp lễ, Tết, số lao động tham gia có thể lên đến hơn 700 người mỗi ngày. Những ngày giáp Tết, cả khu dân cư như thức cùng nồi bánh, từ sáng sớm đến khuya, tiếng nói cười xen lẫn tiếng lửa reo.
Ghi nhận giá trị của nghề, ngày 10/8/2022, Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế đã ban hành Quyết định số 1916/QĐ-UBND, công nhận Nghề bánh tét, bánh chưng Phú Dương là nghề truyền thống của tỉnh. Sự kiện này không chỉ là niềm tự hào của người dân Dương Nỗ mà còn mở ra cơ hội để nghề được bảo tồn, phát triển bài bản hơn trong bối cảnh mới.
Để làm nên thương hiệu bánh tét, bánh chưng Dương Nỗ, người thợ phải trải qua nhiều công đoạn tỉ mỉ, đòi hỏi kinh nghiệm và sự kiên nhẫn.
Nếp dùng để gói bánh là loại nếp thơm, hạt tròn, đều. Sau khi vo sạch, nếp được trộn một lượng muối vừa phải. Muối không chỉ tạo vị đậm đà mà còn giúp bánh giữ được lâu hơn. Lá chuối sứ – loại lá gắn bó với nghề qua nhiều thế hệ – được lựa chọn kỹ, rửa nhiều lần đến khi nước trong, rồi tráng qua nước ấm để loại bỏ tạp chất.
Tùy thời tiết mà người gói điều chỉnh số lớp lá. Ngày nắng hanh, có thể gói ít lớp hơn; ngày mưa lạnh, phải tăng thêm lớp để bánh giữ nhiệt và bảo quản tốt. Những kinh nghiệm tưởng chừng nhỏ ấy được truyền từ đời này sang đời khác, trở thành “bí quyết gia truyền” của từng gia đình.
Một nét riêng của bánh Dương Nỗ là việc sử dụng nước lá bồ ngót khi gói. Nước lá giúp nếp nhanh chín, dẻo hơn và tạo màu xanh đọt chuối tự nhiên, bắt mắt. Khi buộc lạt, người thợ phải canh độ chặt vừa đủ. Lạt lỏng, nước dễ thấm vào làm bánh nhanh hỏng; lạt quá chặt, bánh sẽ cứng, mất đi độ mềm dẻo đặc trưng.
Công đoạn nấu bánh là thử thách lớn nhất. Củi dùng phải là loại cây lớn, đặc, giữ lửa đều trong nhiều giờ liền. Nồi bánh luôn phải được châm nước để nước sấp mặt bánh. Chỉ cần lửa không đều hoặc nước cạn, nếp sẽ sượng, cả mẻ bánh coi như không đạt.
Người dân còn tận dụng lá chuối sứ dư lót dưới đáy và xung quanh nồi. Lớp lá này giúp bánh chín đều, không bị cháy, đồng thời tăng thêm hương thơm tự nhiên. Đêm cận Tết, bên nồi bánh nghi ngút khói, người lớn chuyện trò, trẻ nhỏ quây quần, không khí ấm áp lan tỏa trong từng mái nhà.
Bánh tét, bánh chưng Dương Nỗ vì thế không chỉ là món ăn. Đó là câu chuyện về đất và người, về sự bền bỉ của những bàn tay quanh năm gắn bó ruộng đồng. Từ hạt nếp, lá chuối, dây lạt đến nhân đậu xanh, thịt heo – tất cả đều là sản vật quen thuộc của làng quê, phản ánh lối sống gần gũi với thiên nhiên.
Ngày nay, bánh Dương Nỗ đã có mặt ở nhiều địa phương trong và ngoài thành phố, trở thành món quà mang đậm hương vị Huế. Nghề làm bánh góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân, nhất là trong những lúc nông nhàn.
Quan trọng hơn, đó là sợi dây kết nối các thế hệ. Ông bà truyền nghề cho con cháu, người trẻ tiếp nối và làm mới cách quảng bá, mở rộng thị trường. Trong nhịp sống hiện đại, giữa những thay đổi của đô thị hóa, những nồi bánh đỏ lửa bên dòng Phổ Lợi vẫn âm thầm giữ nhịp cho một làng nghề.




Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng đề nghị các bộ, ngành, địa phương tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm, chủ trương của Đảng “phát triển nhanh nhưng phải bền vững”; “không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần”; “bảo vệ môi trường phải được đặt ở vị trí trung tâm trong quá trình hoạch định chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và phát triển kinh tế xã hội của từng ngành, từng địa phương”.
Sơ kết 1 năm sắp xếp hệ thống thi hành án dân sự, Thứ trưởng Bộ Tư pháp nhấn mạnh muốn thích ứng và phát huy hiệu quả của mô hình mới, trước hết phải đổi mới tư duy, nhận thức và phương thức quản lý, điều hành.
Dự thảo cho phép luật sư tập sự tham gia một số hoạt động tố tụng, nhằm nâng cao chất lượng luật sư, khắc phục khoảng trống pháp lý trong thời gian vừa qua đối với việc quản lý luật sư tập tự...
Người lao động kiến nghị Chính phủ tiếp tục quan tâm nghiên cứu vấn đề tiền lương, đặc biệt là mức lương đủ sống cho người lao động và gia đình họ....
Theo đại diện Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, việc xem xét tăng thêm ngày nghỉ lễ nhằm tái tạo sức lao động, kích cầu du lịch, hơn hết là nhằm hiện thức hóa ước mơ đưa con đến trường trong ngày khai giảng của nhiều người lao động...
Bức tranh kinh tế của Việt Nam trong tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều chỉ số tăng trưởng tích cực. Điển hình như chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 5 tăng 8,8% so với cùng kỳ; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 11,8%....
Chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng mới, lấy phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính là quan điểm nhất quán hiện nay của Đảng và Nhà nước ta. Với đặc trưng là trung tâm cảng biển, công nghiệp... Hải Phòng có đầy đủ các điều kiện để trở thành địa phương đi đầu trong thí điểm các mô hình phát triển mới.