Ngay từ đầu thập niên 2010, Việt Nam đã lựa chọn chuẩn nghèo đa chiều, thay cho cách tiếp cận đơn thuần dựa vào thu nhập. Cách làm này không chỉ nhằm đo lường chính xác hơn tình trạng nghèo, mà còn phản ánh rõ cam kết của Việt Nam đối với các Mục tiêu Phát triển bền vững (SDG) của Liên hợp quốc, đặc biệt trong khuôn khổ Chương trình Nghị sự 2030 về Phát triển bền vững. Giảm nghèo vì vậy không tách rời các mục tiêu về giáo dục, y tế, nước sạch, vệ sinh, thông tin và khả năng tiếp cận các dịch vụ cơ bản.
Trên thực tế, phong trào giảm nghèo ở Việt Nam không chỉ là nỗ lực của Nhà nước, mà còn là kết quả của sự tham gia rộng rãi của toàn xã hội. Các chương trình, chính sách đã được thiết kế theo hướng huy động tổng lực các nguồn lực, lan tỏa đến từng cộng đồng, từng hộ gia đình. Đáng chú ý, tư duy “hỗ trợ để tự vươn lên” dần thay thế cách tiếp cận dựa nhiều vào trợ cấp, khuyến khích người dân chủ động đổi mới, sáng tạo để thoát nghèo.
Những chuyển biến về tư duy và cách làm đã mang lại kết quả rõ nét. Theo Báo cáo tóm tắt Kết quả thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2025 và 5 năm 2021-2025 của Chính phủ, tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm từ 4,4% năm 2021 xuống 1,3% năm 2025. Cũng theo Báo cáo này, thời gian qua, các chính sách người có công, an sinh xã hội, giảm nghèo được triển khai toàn diện và đạt nhiều kết quả nổi bật với tinh thần “không để ai bị bỏ lại phía sau”.
Trong nhóm đồng bào dân tộc thiểu số, tỷ lệ nghèo cũng giảm mạnh, xuống còn 12,5%, với mức giảm trung bình hằng năm khoảng 4,5%. Đây là những con số phản ánh hiệu quả của chính sách khi được triển khai đồng bộ, nhất quán và gắn với thực tiễn địa phương.
Tuy nhiên, công cuộc giảm nghèo vẫn đối mặt không ít thách thức. Ở một số vùng trung du, miền núi phía Bắc và Tây Nguyên, tỷ lệ nghèo vẫn cao hơn đáng kể so với mức trung bình cả nước, thậm chí có địa phương ghi nhận tỷ lệ trên 50%. Tại những cộng đồng xa xôi, hẻo lánh nhất, con số này có thể vượt quá 70%. Cơ sở hạ tầng còn thiếu thốn, từ y tế, giáo dục đến sản xuất và logistics, tiếp tục là rào cản lớn.
Bên cạnh đó, các yếu tố như biến đổi khí hậu, già hóa dân số, đô thị hóa nhanh và bất ổn kinh tế toàn cầu đang tạo thêm áp lực đối với nhóm dễ bị tổn thương. Một bộ phận người dân vẫn phụ thuộc nhiều vào hỗ trợ của Nhà nước, cho thấy nhu cầu cấp thiết về những mô hình giảm nghèo bền vững hơn, phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội và văn hóa địa phương.
Việt Nam đang xây dựng chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2026 – 2030 với nhiều điều chỉnh quan trọng. Trong đó, chuyển đổi số đang được nhìn nhận như một “lời giải mới” cho bài toán giảm nghèo đa chiều. Công nghệ số đã thâm nhập sâu rộng vào nhiều lĩnh vực của đời sống, mở ra cơ hội cải thiện sinh kế cho người nghèo.
Nông nghiệp thông minh ứng dụng Internet vạn vật (IoT) và trí tuệ nhân tạo (AI) giúp tăng năng suất từ 30 – 40%. Y tế số với hồ sơ sức khỏe điện tử toàn dân và khám chữa bệnh từ xa giúp người dân vùng sâu, vùng xa tiếp cận dịch vụ chất lượng cao. Giáo dục số với các nền tảng học trực tuyến và AI cá nhân hóa nội dung giảng dạy đang thu hẹp khoảng cách tiếp cận tri thức.
Cùng với đó, Chính phủ số được hoàn thiện với tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến đạt 100%, nhiều khâu xử lý hồ sơ được hỗ trợ bởi AI, qua đó nâng cao hiệu quả và khả năng tiếp cận của người dân ở vùng khó khăn.
Theo đánh giá của các tổ chức quốc tế và chuyên gia, chuyển đổi số có thể đóng góp trực tiếp cho giảm nghèo thông qua việc cải thiện khả năng tiếp cận thị trường, dịch vụ tài chính, y tế, giáo dục, đồng thời thúc đẩy tăng năng suất và tạo việc làm mới. Để các sáng kiến này phát huy hiệu quả, yêu cầu đặt ra là bảo đảm hạ tầng số có chi phí hợp lý, các mô hình triển khai gắn với cộng đồng và hướng tới nhóm yếu thế, qua đó tăng cường quyền sở hữu địa phương và tính bền vững.
Theo đánh giá của các chuyên gia giảm nghèo, chuyển đổi số đang mở ra ba cơ hội lớn cho người dân nghèo: xóa bỏ rào cản địa lý trong tiếp cận dịch vụ công và tài chính chính thức; nâng cao năng suất, thu nhập ngay cả trong các ngành truyền thống; và tạo ra những nghề nghiệp mới đòi hỏi kỹ năng số, mang lại nguồn sinh kế bền vững hơn. Trong tiến trình giảm nghèo đa chiều, đây được xem là động lực quan trọng giúp Việt Nam tiến gần hơn tới mục tiêu phát triển bao trùm và bền vững.



Người lao động kiến nghị Chính phủ tiếp tục quan tâm nghiên cứu vấn đề tiền lương, đặc biệt là mức lương đủ sống cho người lao động và gia đình họ....
Theo đại diện Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, việc xem xét tăng thêm ngày nghỉ lễ nhằm tái tạo sức lao động, kích cầu du lịch, hơn hết là nhằm hiện thức hóa ước mơ đưa con đến trường trong ngày khai giảng của nhiều người lao động...
Lãnh đạo Chính phủ khẳng định, với những người chưa có điều kiện mua nhà, Nhà nước sẽ tạo điều kiện để họ thuê nhà dài hạn, ổn định, với mức giá phù hợp với thu nhập và khả năng chi trả. Nhà ở cho công nhân phải có giá cả hợp lý, đồng thời phải được quy hoạch, xây dựng đồng bộ với các thiết chế văn hóa - xã hội...
Dự kiến, cả nước sẽ có hơn 1,5 triệu người có công thuộc diện được tặng quà của Chủ tịch nước nhân dịp kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 -27/7/2026). Quà tặng cho người có công theo 2 mức là 600.000 đồng và 300.000 đồng...
Đại hội sẽ tập trung thảo luận để giải quyết các vấn đề cốt lõi về quyền lợi người lao động và định hướng phát triển trong 5 năm tới, như tiền lương, thu nhập, năng suất lao động, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số...
Bức tranh kinh tế của Việt Nam trong tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều chỉ số tăng trưởng tích cực. Điển hình như chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 5 tăng 8,8% so với cùng kỳ; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 11,8%....
Chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng mới, lấy phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính là quan điểm nhất quán hiện nay của Đảng và Nhà nước ta. Với đặc trưng là trung tâm cảng biển, công nghiệp... Hải Phòng có đầy đủ các điều kiện để trở thành địa phương đi đầu trong thí điểm các mô hình phát triển mới.