Trong bối cảnh các dự án giảm phát thải trong lĩnh vực rừng như REDD đã được triển khai, các dự án dựa vào trồng rừng và quản lý rừng bền vững (SFM) để tăng hấp thụ và lưu trữ khí carbon vẫn còn mới mẻ tại Việt Nam.
Trên toàn cầu, có hai loại thị trường carbon: thị trường tự nguyện và thị trường bắt buộc. Thị trường carbon tự nguyện cung cấp các tín chỉ “bù đắp” carbon cho người mua tư nhân, trong khi thị trường bắt buộc được quy định bởi luật pháp và áp dụng cho các ngành công nghiệp nhất định.
Tại Việt Nam, Chính phủ đã đặt mục tiêu khởi động giai đoạn thí điểm Hệ thống giao dịch phát thải (ETS) vào cuối năm 2025, áp dụng cho các lĩnh vực nhiệt điện, xi măng và thép. Hệ thống ETS dự kiến sẽ vận hành đầy đủ từ năm 2029.
Mô hình quản lý rừng bền vững (SFM) được xem là phù hợp với các chủ rừng Việt Nam, đặc biệt là trong việc trồng keo. Để rừng trồng được cấp tín chỉ carbon, cần có hệ thống đo lường, báo cáo và xác minh (MRV) chặt chẽ, minh bạch. Các tiêu chuẩn đo lường đánh giá trữ lượng carbon rừng trồng hàng đầu trên toàn cầu như Tiêu chuẩn carbon tự nguyện của Verra (VCS) và Tiêu chuẩn Gold Standard cung cấp phương pháp cho các hoạt động lâm nghiệp khác nhau.
Việc chuyển đổi từ mô hình sản xuất sinh khối keo sang mô hình sản xuất gỗ lớn có thể dẫn đến trữ lượng carbon đạt 221 tấn CO2/ha cho chu kỳ 11 năm, so với chỉ 78 tấn CO2/ha của chu kỳ 5 năm. Điều này cho thấy mô hình SFM có thể đóng góp vào việc đạt được các mục tiêu chính sách cam kết về hành động khí hậu của Chính phủ Việt Nam.
Tuy nhiên, thị trường carbon tự nguyện quốc tế có tính cạnh tranh rất cao, đòi hỏi các chủ rừng phải thuyết phục người mua thông qua tính minh bạch và các đồng lợi ích rõ rệt. Một yêu cầu quan trọng là mỗi dự án trồng rừng phải có chu kỳ tối thiểu 40 năm.
Với mức hấp thụ carbon trung bình 4,2 tấn CO2/ha/năm, quy mô dự án có thể tạo ra khoảng 21.000 tín chỉ carbon mỗi năm. Điều này không chỉ mang lại nguồn thu từ tín chỉ carbon mà còn từ lợi ích kinh tế của các mô hình lâm sinh khác nhau, đồng thời đóng góp vào đa dạng sinh học và lợi ích xã hội.
(*) Carina van Weelden, Quản lý thực hiện, Dự án “Nhân rộng quản lý rừng bền vững và Chứng chỉ rừng tại Việt Nam- SFM”
Nội dung đầy đủ của bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 41-2025 phát hành ngày 13/10/2025. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-41-2025.html




Sức ép từ thị trường và xu hướng tiêu dùng mới đang buộc nhiều doanh nghiệp khởi nghiệp phải tìm kiếm những động lực phát triển bền vững hơn. Trong bối cảnh đó, đổi mới sáng tạo, R&D và khai thác lợi thế từ nguồn lực bản địa đang nổi lên như những hướng đi giàu tiềm năng...
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng đề nghị các bộ, ngành, địa phương tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm, chủ trương của Đảng “phát triển nhanh nhưng phải bền vững”; “không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần”; “bảo vệ môi trường phải được đặt ở vị trí trung tâm trong quá trình hoạch định chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và phát triển kinh tế xã hội của từng ngành, từng địa phương”.
Dựa trên hướng tiếp cận mới, các nhiệm vụ giải pháp phải có sự đột phá nhưng vẫn có tính kế thừa, thúc đẩy mạnh mẽ sự chuyển biến về nhận thức, hành động, kiến tạo thể chế, chính sách cho phát triển nhanh và bền vững kinh tế biển. Chuyển mạnh từ tư duy nặng về bảo vệ, bảo tồn sang phát triển nhanh và bền vững, chuyển từ phát triển kinh tế ven biển sang phát triển quốc gia hướng biển...
Một thay đổi lớn trong Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo sửa đổi là hoàn thiện chế định giao, cho thuê và đăng ký sử dụng khu vực biển. Dự thảo luật lần đầu tiên nghiên cứu bổ sung các cơ chế như đấu giá quyền sử dụng khu vực biển, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng khu vực biển và hồ sơ hải chính...
Điện sinh khối từ bã mía hiện chiếm hơn 95% tổng công suất điện sinh khối của Việt Nam, song đang gặp nhiều rào cản về cơ chế giá và chính sách phát triển. Mức giá mua điện thấp, quy định phân loại dự án chưa phù hợp và những vướng mắc trong cơ chế thanh toán khiến nguồn năng lượng tái tạo này chưa phát huy hết tiềm năng...
Bức tranh kinh tế của Việt Nam trong tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều chỉ số tăng trưởng tích cực. Điển hình như chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 5 tăng 8,8% so với cùng kỳ; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 11,8%....
Chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng mới, lấy phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính là quan điểm nhất quán hiện nay của Đảng và Nhà nước ta. Với đặc trưng là trung tâm cảng biển, công nghiệp... Hải Phòng có đầy đủ các điều kiện để trở thành địa phương đi đầu trong thí điểm các mô hình phát triển mới.