Du khách xả rác thải nhựa cao hơn gần 2 lần so với người dân sở tại ở các điểm du lịch

Nghiên cứu cho thấy, lượng rác thải nhựa phát sinh từ khách du lịch cao gấp 1,7 đến 2 lần so với người dân địa phương, khẳng định du khách là nguồn phát sinh chính...

việc sử dụng các sản phẩm nhựa dùng một lần (SUPs) như chai nước, bao bì, đồ amenities khách sạn đã trở thành thói quen khó bỏ do tính tiện lợi và giá rẻ. Ảnh minh họa
việc sử dụng các sản phẩm nhựa dùng một lần (SUPs) như chai nước, bao bì, đồ amenities khách sạn đã trở thành thói quen khó bỏ do tính tiện lợi và giá rẻ. Ảnh minh họa

Theo báo cáo nghiên cứu cơ sở đánh giá ô nhiễm nhựa trong ngành du lịch của UNDP, ngành du lịch vừa là động lực kinh tế, vừa là nguồn phát thải rác nhựa đe dọa chính tài sản cốt lõi của mình là cảnh quan và môi trường.

Nhựa dùng một lần xuất hiện phổ biến trong hầu hết các khâu của chuỗi giá trị du lịch, từ lưu trú, ăn uống, vận chuyển, tham quan cho đến các hoạt động giải trí và trở thành một trong những nguồn phát sinh rác thải khó kiểm soát nhất tại các điểm đến.

NGUỒN PHÁT SINH RÁC THẢI NHỰA TỪ DU KHÁCH

Theo các thống kê, lượng sử dụng nhựa hàng năm ở Việt Nam đã tăng từ 3,8 kg/người/năm vào năm 1990 lên 33 kg/người vào năm 2010, 41 kg/người vào năm 2015 và 81 kg/người vào năm 2019. Khối lượng nhựa tiêu thụ trung bình của Việt Nam cao hơn so với trung bình thế giới (46 kg/người), Châu Á (39 kg/người), nhưng còn thấp hơn các quốc gia thuộc khối NAFTA (170 kg/người) và Châu Âu (126 kg/người) (WWF, 2022).

Tại Việt Nam, chất thải nhựa là một trong những thành phần đáng kể trong dòng chất thải rắn sinh hoạt, chiếm khoảng 3–26% (trung bình khoảng 12%) tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt, và được đánh giá là nhóm chất thải có nguy cơ thất thoát ra môi trường cao do đặc tính khó phân hủy, giá trị tái chế không đồng đều và phụ thuộc lớn vào hành vi tiêu dùng – thải bỏ của của người dân và du khách (World Bank, 2023).

Trong ngành du lịch, việc sử dụng các sản phẩm nhựa dùng một lần (SUPs) như chai nước, bao bì, đồ amenities khách sạn đã trở thành thói quen khó bỏ do tính tiện lợi và giá rẻ.

Chất thải nhựa là một trong những thành phần đáng kể trong dòng chất thải rắn sinh hoạt. Ảnh minh họa
Chất thải nhựa là một trong những thành phần đáng kể trong dòng chất thải rắn sinh hoạt. Ảnh minh họa

Từ thực tế điển hình ở TP.Đà Nẵng và Ninh Bình, nghiên cứu chỉ rõ tại Ninh Bình, tổng lượng chất thải rắn từ du lịch là 27,24 tấn/ngày (chiếm 1,08% tổng rác thải tỉnh nhưng cục bộ lên tới 20% tại các xã du lịch trọng điểm như Hoa Lư); trong đó tỷ lệ rác nhựa cao hơn, chiếm 18,5% (5,04 tấn/ngày).

Còn tại Đà Nẵng, tổng lượng chất thải rắn từ du lịch là 117,8 tấn/ngày (chiếm 5,95% tổng rác thải của thành phố); trong đó, rác nhựa chiếm 13,56% (15,98 tấn/ngày).

Về cường độ phát thải (kg/khách/ngày), nghiên cứu cho biết khách lưu trú tại Đà Nẵng xả thải gấp hơn 2 lần khách tại Ninh Bình (2,01 kg/ngày so với 0,51 kg/ngày). Điều này phản ánh mô hình tiêu dùng cao cấp, sử dụng nhiều bao và tiện ích tại các đô thị nghỉ dưỡng biển.

Đáng chú ý, nghiên cứu chỉ rõ thực tế lượng rác nhựa phát sinh từ khách du lịch (từ 0,12 - 0,27 kg/người/ngày) cao gấp 1,7 đến 2 lần so với người dân địa phương, khẳng định du khách là nguồn phát sinh chính.

Tại Ninh Bình, rác nhựa PET đứng đầu bảng (chiếm 38%), tiếp đó là túi ni lông (19%). Nguyên nhân do đặc thù di chuyển bằng thuyền và đi bộ tham quan di sản khiến nhu cầu nước đóng chai rất cao.

Còn tại Đà Nẵng, túi nilon và nhựa dùng một lần (SUPs) là “điểm nóng” khi chiếm tỷ trọng cao nhất (23,7%), vượt qua chai nhựa. Điều này phản ánh thói quen mua sắm, ăn uống mang đi (take-away) và các dịch vụ tiện ích tại bãi biển.

“ĐIỂM NGHẼN” THU GOM, TRUNG CHUYỂN RÁC THẢI NHỰA

Trước hiện trạng rác thải nhựa trên, nghiên cứu phát hiện một nghịch lý về dòng chảy và rò rỉ: tỷ lệ tái chế cao không đồng nghĩa với tỷ lệ rò rỉ rác thấp.

Tại Ninh Bình, tỷ lệ thu gom tái chế rất cao (47,25%) do rác PET có giá trị kinh tế, thu hút lực lượng ve chai/phi chính thức hoạt động mạnh. Tuy nhiên, tỷ lệ rò rỉ nhựa ra môi trường lại cao (9%, tương đương 0,45 tấn/ngày). Nguyên nhân được chỉ ra là do địa hình sông nước, hang động khó thu gom triệt để và hệ thống thu gom tại vùng nông thôn còn hạn chế (91%).

Trong khi đó, tại Đà Nẵng, tỷ lệ tái chế thấp hơn (14,33%) do phần lớn rác là túi nilon và hộp xốp (giá trị thấp) bị chôn lấp. Nhưng nhờ hạ tầng đô thị tốt, tỷ lệ rò rỉ thấp (0,75%, tương đương 0,12 tấn/ngày). Tuy nhiên, lượng rò rỉ này chủ yếu trôi ra biển, gây tác hại sinh thái nghiêm trọng.

Các phát hiện định lượng từ nghiên cứu cho thấy ô nhiễm nhựa trong ngành du lịch không còn là vấn đề môi trường cục bộ, mà đã trở thành một thách thức mang tính kinh tế, quản trị và năng lực cạnh tranh điểm đến.

Nghiên cứu chỉ ra rằng điểm nghẽn lớn nhất là sự "đứt gãy" trong khâu thu gom, trung chuyển. Thực tế tại nhiều nơi, doanh nghiệp đã phân loại rác tại nguồn, nhưng đơn vị thu gom lại đổ lẫn rác đã phân loại vào chung một xe để vận chuyển đi chôn lấp/đốt, gây lãng phí nguồn lực và mất niềm tin của người dân và doanh nghiệp.

Thực tế nghiên cứu cho thấy mặc dù 95-100% doanh nghiệp đã nhận thức được tác hại của rác nhựa, nhưng 95% (Ninh Bình) và 81,6% (Đà Nẵng) vẫn đang cung cấp nhựa dùng một lần.

Một trong những rào cản chính đó là vấn đề chi phí sản phẩm thay thế đắt hơn nhựa (rào cản lớn nhất với 53% doanh nghiệp). Trong khi đó, sản phẩm nhựa lại được 87% doanh nghiệp đánh giá tiện lợi và khách hàng đã quen thuộc.

Không những thế, việc thiếu nguồn cung, thiếu nhà cung cấp sản phẩm xanh ổn định và giá cả phải chăng cho SMEs cũng là một rào cản dẫn đến tình trạng này.

Về phía du khách, 72% khách tại Ninh Bình sử dụng >3 chai nhựa/ngày, còn khách quốc tế tiêu thụ chai nhựa nhiều hơn khách nội địa.

Một thực tế đáng suy ngẫm là hiện nay mức sẵn lòng chi trả thêm cho dịch vụ xanh rất thấp. 71% du khách chỉ chấp nhận trả thêm dưới 10% chi phí chuyến đi cho các hoạt động bảo vệ môi trường.

Theo các chuyên gia nghiên cứu “du khách sẽ không tự thay đổi nếu không có hạ tầng hỗ trợ (trạm refill, thùng rác phân loại) và các lựa chọn "mặc định" xanh từ phía doanh nghiệp”.

Các phát hiện định lượng từ nghiên cứu cho thấy ô nhiễm nhựa trong ngành du lịch không còn là vấn đề môi trường cục bộ, mà đã trở thành một thách thức mang tính kinh tế, quản trị và năng lực cạnh tranh điểm đến.

Quy mô phát sinh lớn, mức độ tập trung cao của các dòng rác nhựa chủ đạo, cùng với chi phí của việc không hành động ở mức hàng trăm đến hàng nghìn tỷ đồng mỗi năm, đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với các can thiệp chính sách và đầu tư có trọng tâm, mang tính hệ thống, có khả năng mở rộng…

Xây dựng một Việt Nam “xanh, sạch, đẹp hơn” phải bằng hành động cụ thể và sự đồng lòng

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng đề nghị các bộ, ngành, địa phương tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm, chủ trương của Đảng “phát triển nhanh nhưng phải bền vững”; “không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần”; “bảo vệ môi trường phải được đặt ở vị trí trung tâm trong quá trình hoạch định chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và phát triển kinh tế xã hội của từng ngành, từng địa phương”.

Chuyển từ phát triển kinh tế ven biển sang phát triển quốc gia hướng biển

Dựa trên hướng tiếp cận mới, các nhiệm vụ giải pháp phải có sự đột phá nhưng vẫn có tính kế thừa, thúc đẩy mạnh mẽ sự chuyển biến về nhận thức, hành động, kiến tạo thể chế, chính sách cho phát triển nhanh và bền vững kinh tế biển. Chuyển mạnh từ tư duy nặng về bảo vệ, bảo tồn sang phát triển nhanh và bền vững, chuyển từ phát triển kinh tế ven biển sang phát triển quốc gia hướng biển...

Quản trị biển hiện đại, tạo động lực mới cho phát triển kinh tế biển bền vững

Một thay đổi lớn trong Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo sửa đổi là hoàn thiện chế định giao, cho thuê và đăng ký sử dụng khu vực biển. Dự thảo luật lần đầu tiên nghiên cứu bổ sung các cơ chế như đấu giá quyền sử dụng khu vực biển, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng khu vực biển và hồ sơ hải chính...

Tháo gỡ rào cản để phát huy tiềm năng điện sinh khối từ bã mía

Điện sinh khối từ bã mía hiện chiếm hơn 95% tổng công suất điện sinh khối của Việt Nam, song đang gặp nhiều rào cản về cơ chế giá và chính sách phát triển. Mức giá mua điện thấp, quy định phân loại dự án chưa phù hợp và những vướng mắc trong cơ chế thanh toán khiến nguồn năng lượng tái tạo này chưa phát huy hết tiềm năng...

Bức tranh kinh tế của Việt Nam trong tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều chỉ số tăng trưởng tích cực. Điển hình như chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 5 tăng 8,8% so với cùng kỳ; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 11,8%....

Bí thư Thành ủy Hải Phòng: Thành phố đủ điều kiện thí điểm mô hình phát triển mới

Chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng mới, lấy phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính là quan điểm nhất quán hiện nay của Đảng và Nhà nước ta. Với đặc trưng là trung tâm cảng biển, công nghiệp... Hải Phòng có đầy đủ các điều kiện để trở thành địa phương đi đầu trong thí điểm các mô hình phát triển mới.

Bí thư Thành ủy Hải Phòng: Thành phố đủ điều kiện thí điểm mô hình phát triển mới

Chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng mới, lấy phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính là quan điểm nhất quán hiện nay của Đảng và Nhà nước ta. Với đặc trưng là trung tâm cảng biển, công nghiệp... Hải Phòng có đầy đủ các điều kiện để trở thành địa phương đi đầu trong thí điểm các mô hình phát triển mới.

Đảng Cộng sản Việt Nam - Đại hội XIV

Đảng Cộng sản Việt Nam - Đại hội XIV

Với phương châm Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Đột phá - Phát triển, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng xác định tư duy, tầm nhìn, những quyết sách chiến lược để chúng ta vững bước tiến...

VnEconomy Interactive

VnEconomy Interactive

Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...