"Có cơ quan đóng mật vào cả danh sách vụ trưởng hiện hành, danh sách này thì có gì mật?", Chủ nhiệm Uỷ ban Tư pháp Lê Thị Nga lên tiếng tại phiên thảo luận về dự án Luật Bảo vệ bí mật Nhà nước, sáng 22/11 của Quốc hội.
Đây cũng không phải lần thứ nhất bà Nga đề cập tình trạng lạm dụng dấu mật.
Vị đại biểu Quốc hội này phản ánh, có những bộ đóng dấu mật cả vào chất vấn của đại biểu Quốc hội, dù không có thông tin mật nhưng vẫn đóng dấu mật, làm cho đại biểu Quốc hội không thể trả lời cử tri về thông tin mà mình chất vấn được.
Một tình trạng nữa được bà Nga nêu là nhiều cơ quan, bộ, ngành lạm dụng dấu mật để không công khai thông tin, ảnh hưởng đến việc phòng, chống tham nhũng và đẩy người dân vào tình trạng dễ bị quy chụp.
Quy định về mật không rõ ràng, theo đại biểu Nga, còn đẩy một số cá nhân vào vòng lao lý khi bị quy là làm lộ tài liệu mật.
Dẫn quy định tại điều 8, đại biểu Nga phân tích: ở đây phân biệt độ mật theo hai căn cứ, thứ nhất là theo căn cứ vào lĩnh vực, thứ hai là căn cứ vào mức độ nguy hại.
Tuyệt mật - mức nguy hại đặc biệt nghiêm trọng - có 5 lĩnh vực, đó là an ninh, chính trị, quốc phòng, đối ngoại, cơ yếu.
Tối mật - mức nguy hại rất nghiêm trọng- có 16 lĩnh vực, chính trị, an ninh, quốc phòng, đối ngoại, kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học, công nghệ, môi trường...
Cộng cả tuyệt mật và tối mật cộng vào thì thành 21 lĩnh vực và mức độ nguy hại là nghiêm trọng.
Quy định như thế này, theo đại biểu Nga, là có thể dễ tùy tiện khi áp dụng và đặc biệt là các lĩnh vực này quá rộng. Ví dụ lĩnh vực giáo dục thì cái gì là mật và cái gì là không mật và mức nguy hại này cũng phải cân nhắc, bà Nga góp ý.
Mặt khác, khi lưu ý về quy định người nắm giữ bí mật Nhà nước, đại biểu Nguyễn Tiến Sinh (Hoà Bình) cũng nêu thực tế hiện nay là rất nhiều đại biểu Quốc hội được cung cấp các tài liệu mật, thậm chí tài liệu tuyệt mật, tối mật, tuy nhiên không có quy định nào về việc quản lý, sử dụng, bảo quản, thu hồi và khai thác như thế nào.
Ông Sinh đặt vấn đề, cần bổ sung các quy định về trách nhiệm của các cá nhân, công dân, cơ quan, tổ chức khi tiếp cận các thông tin tài liệu chứa đựng bảo vệ bí mật Nhà nước. Ví dụ, vô tình tiếp cận bí mật Nhà nước như nhặt được tài liệu mật, tuyệt mật thì phải xử lý như thế nào, khai báo ở đâu, nộp ở đâu và những quy định về bảo vệ bí mật ra sao?.
Đại biểu Sinh cũng cho rằng, cần nghiên cứu bổ sung chặt chẽ quy định của pháp luật về an ninh mạng, an ninh thông tin và an toàn kết nối các thiết bị công nghệ thông tin phục vụ công tác, đặc biệt là những công việc nhạy cảm với thông tin bí mật nhà nước.
"Lãnh đạo thì sử dụng máy điện thoại như thế nào cũng cần được quy định chặt chẽ trong luật này", ông Sinh nêu ví dụ.
Một nội dung cũng được nhiều đại biểu quan tâm thảo luận là thời hạn bảo vệ bí mật Nhà nước.
Điều 19 dự thảo luật quy định về thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước đối với độ tuyệt mật là 30 năm. Nhưng theo đại biểu Dương Tấn Quân (Bà Rịa - Vũng Tàu), đối với thời hạn bảo vệ bí mật Nhà nước độ tuyệt mật trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, thì 30 năm là hơi ngắn.
Ông phân tích, trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, những tài liệu, vật liệu mang độ tuyệt mật là những tài liệu, vật liệu có nội dung đặc biệt quan trọng, chỉ phổ biến cho những người có trách nhiệm, nếu bị lộ, lọt sẽ gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng đến chủ quyền an ninh quốc gia, lợi ích dân tộc.
Vì vậy, đại biểu này đề nghị ban soạn thảo cần nghiên cứu tăng thời hạn bảo vệ bí mật Nhà nước đối với lĩnh vực quốc phòng, an ninh.




Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng đề nghị các bộ, ngành, địa phương tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm, chủ trương của Đảng “phát triển nhanh nhưng phải bền vững”; “không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần”; “bảo vệ môi trường phải được đặt ở vị trí trung tâm trong quá trình hoạch định chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và phát triển kinh tế xã hội của từng ngành, từng địa phương”.
Các chuyên gia kinh tế cho rằng để đạt được mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn tới cũng như trở thành nước có thu nhập cao vào năm 2045, việc đẩy mạnh sự phát triển của khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số chính là yêu cầu cấp thiết...
Chủ trì buổi làm việc với Ban Chính sách, chiến lược Trung ương và các cơ quan liên quan về Đề án đổi mới mô hình phát triển đất nước dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh mô hình phát triển mới phải xây dựng năng lực tự chủ sáng tạo của quốc gia.
Lãnh đạo Chính phủ khẳng định, với những người chưa có điều kiện mua nhà, Nhà nước sẽ tạo điều kiện để họ thuê nhà dài hạn, ổn định, với mức giá phù hợp với thu nhập và khả năng chi trả. Nhà ở cho công nhân phải có giá cả hợp lý, đồng thời phải được quy hoạch, xây dựng đồng bộ với các thiết chế văn hóa - xã hội...
Thứ trưởng Lê Công Thành cho rằng việc bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu là nhiệm vụ lâu dài, khó khăn và phức tạp, nhưng cũng là cơ hội để Việt Nam đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao sức chống chịu của nền kinh tế và hướng tới phát triển bền vững. Đây không chỉ là yêu cầu khách quan mà còn là lựa chọn chiến lược để nâng cao chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh quốc gia...
Bức tranh kinh tế của Việt Nam trong tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều chỉ số tăng trưởng tích cực. Điển hình như chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 5 tăng 8,8% so với cùng kỳ; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 11,8%....
Chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng mới, lấy phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính là quan điểm nhất quán hiện nay của Đảng và Nhà nước ta. Với đặc trưng là trung tâm cảng biển, công nghiệp... Hải Phòng có đầy đủ các điều kiện để trở thành địa phương đi đầu trong thí điểm các mô hình phát triển mới.