Các chuyên gia nhấn mạnh điều này tại cuộc họp tham vấn xây dựng Hướng dẫn đánh giá rủi ro và tính dễ bị tổn thương khí hậu cho các đô thị Việt Nam, do Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) và Quỹ Môi trường toàn cầu (GEF) tổ chức ngày 16/9.
Đây là hoạt động trong khuôn khổ dự án “lồng ghép chống chịu biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường để phát triển các đô thị xanh loại II” do Quỹ Môi trường toàn cầu (GEF) hỗ trợ thông qua Ngân hàng phát triển châu Á (ADB).
ĐÔ THỊ LÀ MỘT TRONG NHỮNG KHU VỰC DỄ BỊ TỔN THƯƠNG CAO TRƯỚC BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Phát biểu tại cuộc họp, ông Nguyễn Trung Thắng - Phó Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách Nông nghiệp và Môi trường, nhấn mạnh biến đổi khí hậu đang diễn biến ngày càng phức tạp, là một trong những thách thức lớn đối với quá trình phát triển bền vững trên toàn cầu.
Với vị trí, đặc điểm địa lý, Việt Nam là một trong những quốc gia dễ bị tổn thương cao, chịu tác động ảnh hưởng nặng nề nhất bởi biến đổi khí hậu.
Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, trung bình hàng năm, thiên tai và biến đổi khí hậu gây thiệt hại khoảng 30 nghìn tỷ đồng, ước tính chiếm từ 1,5-2% GDP hàng năm.
Trước tác động của biến đổi khí hậu, đô thị là một trong những khu vực dễ bị tổn thương cao. Thực tế trong thời gian qua, nhiều đô thị đã và đang đối mặt với nguy cơ ngập lụt, sạt lở, xâm nhập mặn và sóng nhiệt đô thị…
Trong bối cảnh đó, Việt Nam đã và đang nỗ lực triển khai nhiều giải pháp để nâng cao năng lực ứng phó với biến đổi khí hậu nói chung và khu vực đô thị nói riêng.
Ông Thắng cho biết Nghị quyết 06/NQ-TW của Bộ Chính trị ban hành năm 2022 về quy hoạch, xây dựng và phát triển bền vững đô thị Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã đề ra các nhiệm vụ giải pháp tăng cường năng lực chống chịu, ứng phó với biến đổi khí hậu của khu vực đô thị.
Trước đó, năm 2021, Chinh phủ đã ban hành Quyết định 438/QĐ-TTg về phát triển đô thị Việt Nam ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2021-2030 nhằm tăng cường khả năng chống chịu cho tất cả các thành phố.
Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đã ban hành kế hoạch hành động quốc gia về thích ứng với biến đổi khí hậu giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, và được cập nhật tại Quyết định số 1422/QĐ-TTg năm 2024 của Thủ tướng Chính phủ.
Gần đây nhất, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã trình Chính phủ báo cáo trình Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu báo cáo kế hoạch quốc gia về thích ứng với biến đổi khí hậu cập nhật.
Trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 cũng đã dành 1 chương riêng về ứng phó với biến đổi khí hậu, trong đó có đề cập đến trách nhiệm thích ứng, giảm nhẹ. Các vấn đề này được cụ thể hóa trong Nghị định 06/2022/ND-CP, và đặc biệt là Thông tư 01/2022/TT-BTNMT cùng tài liệu hướng dẫn đánh giá tính dễ bị tổn thương và rủi ro trước những tác động của biến đổi khí hậu.
Tuy nhiên, đến nay, Việt Nam vẫn chưa có các tài liệu, hướng dẫn chuyên biệt, thống nhất để đánh giá tính dễ bị tổn thương và rủi ro do biến đổi khí hậu áp dụng cho khu vực đô thị.
HỖ TRỢ NHẬN DIỆN SỚM RỦI RO KHÍ HẬU, PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ XANH
Nhấn mạnh vai trò và tầm quan trọng của dự án này, ông Thắng cho biết dự án hướng tới tăng cường năng lực thể chế và kỹ thuật cho các địa phương, lồng ghép chống chịu biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường vào phát triển đô thị xanh loại II.
Dự án tập trung thí điểm các giải pháp phát triển đô thị bền vững tại Hà Giang, Huế và Vĩnh Yên; hỗ trợ xâu dựng khung chính sách quốc gia về bảo vệ môi trường và chống chịu biến đổi khí hậu. Dự án cũng hỗ trợ tăng cường năng lực lập quy hoạch môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu; đồng thời xây dựng các giải pháp tài chính để phòng chống rủi ro khí hậu tại Thành phố Huế.
“Hướng dẫn đánh giá rủi ro và tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu cho các đô thị ở Việt Nam” là công cụ giúp các bên liên quan nhận diện sớm rủi ro khí hậu, xác định các khu vực và nhóm dân cư dễ bị tổn thương, từ đó hỗ trợ ra quyết định trên cơ sở bằng chứng khoa học".
Hoạt động xây dựng hướng dẫn đánh giá tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu đối với các đô thị được Viện Chiến lược Chính sách Nông nghiệp và Môi trường tổ chức triển khai thực hiện; Viện Quy hoạch đô thị, thuộc Hiệp hội quy hoạch đô thị Việt Nam là đơn vị tư vấn. Sau quá trình nghiên cứu, khảo sát, đơn vị tư vấn đã xây dựng dự thảo hướng dẫn đánh giá tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu đối với các đô thị.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tài liệu “Hướng dẫn đánh giá rủi ro và tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu cho các đô thị ở Việt Nam” là công cụ giúp các bên liên quan nhận diện sớm rủi ro khí hậu, xác định các khu vực và nhóm dân cư dễ bị tổn thương, từ đó hỗ trợ ra quyết định trên cơ sở bằng chứng khoa học.
Kết quả đánh giá là nền tảng để chính quyền lập kế hoạch phát triển đô thị gắn với thích ứng biến đổi khí hậu, thiết kế hạ tầng chống chịu, phân bổ nguồn lực hợp lý, đồng thời tận dụng hiệu quả các nguồn vốn quốc tế…
Ngoài ra, Hướng dẫn đánh giá rủi ro và tính dễ bị tổn thương khí hậu cho các đô thị Việt Nam còn góp phần lồng ghép các Mục tiêu Phát triển Bền vững (SDGs), đặc biệt là SDG 11 (Đô thị bền vững) và SDG 13 (Hành động khí hậu), đồng thời đáp ứng yêu cầu báo cáo khí hậu quốc gia (NDC- Đóng góp do quốc gia tự quyết định).
Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho rằng tài liệu này không chỉ hỗ trợ công tác quản lý trong nước mà còn nâng cao uy tín quốc tế của Việt Nam trong các cam kết giảm phát thải và thích ứng biến đổi khí hậu.
Thông tin về bộ chỉ số và phương pháp xác định chỉ số đánh giá tính dễ bị tổn thương và rủi ro khí hậu cho khu vực đô thị, chuyên gia cho biết đây là cơ sở đánh giá toàn diện về rủi ro và tính dễ bị tổn thương của đô thị trước biến đổi khí hậu, nhằm cung cấp thông tin cho các quy trình quy hoạch đô thị bền vững và xây dựng cơ sở bằng chứng cho việc sử dụng các giải pháp dựa vào thiên nhiên và thiết kế đô thị nhạy cảm với nước.
Khi kết hợp các chỉ số, nhà quản lý có thể xây dựng bản đồ rủi ro, lựa chọn ưu tiên đầu tư và đưa ra chính sách quy hoạch, hạ tầng, xã hội phù hợp cho đô thị an toàn, bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu.




Sức ép từ thị trường và xu hướng tiêu dùng mới đang buộc nhiều doanh nghiệp khởi nghiệp phải tìm kiếm những động lực phát triển bền vững hơn. Trong bối cảnh đó, đổi mới sáng tạo, R&D và khai thác lợi thế từ nguồn lực bản địa đang nổi lên như những hướng đi giàu tiềm năng...
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng đề nghị các bộ, ngành, địa phương tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm, chủ trương của Đảng “phát triển nhanh nhưng phải bền vững”; “không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần”; “bảo vệ môi trường phải được đặt ở vị trí trung tâm trong quá trình hoạch định chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và phát triển kinh tế xã hội của từng ngành, từng địa phương”.
Dựa trên hướng tiếp cận mới, các nhiệm vụ giải pháp phải có sự đột phá nhưng vẫn có tính kế thừa, thúc đẩy mạnh mẽ sự chuyển biến về nhận thức, hành động, kiến tạo thể chế, chính sách cho phát triển nhanh và bền vững kinh tế biển. Chuyển mạnh từ tư duy nặng về bảo vệ, bảo tồn sang phát triển nhanh và bền vững, chuyển từ phát triển kinh tế ven biển sang phát triển quốc gia hướng biển...
Một thay đổi lớn trong Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo sửa đổi là hoàn thiện chế định giao, cho thuê và đăng ký sử dụng khu vực biển. Dự thảo luật lần đầu tiên nghiên cứu bổ sung các cơ chế như đấu giá quyền sử dụng khu vực biển, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng khu vực biển và hồ sơ hải chính...
Điện sinh khối từ bã mía hiện chiếm hơn 95% tổng công suất điện sinh khối của Việt Nam, song đang gặp nhiều rào cản về cơ chế giá và chính sách phát triển. Mức giá mua điện thấp, quy định phân loại dự án chưa phù hợp và những vướng mắc trong cơ chế thanh toán khiến nguồn năng lượng tái tạo này chưa phát huy hết tiềm năng...
Bức tranh kinh tế của Việt Nam trong tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều chỉ số tăng trưởng tích cực. Điển hình như chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 5 tăng 8,8% so với cùng kỳ; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 11,8%....
Chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng mới, lấy phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính là quan điểm nhất quán hiện nay của Đảng và Nhà nước ta. Với đặc trưng là trung tâm cảng biển, công nghiệp... Hải Phòng có đầy đủ các điều kiện để trở thành địa phương đi đầu trong thí điểm các mô hình phát triển mới.