Đó là một trong rất nhiều băn khoăn của đại biểu Quốc hội liên quan đến đề xuất tăng tuổi nghỉ hưu tại dự thảo Bộ luật Lao động (sửa đổi). Chiều 12/6 Quốc hội thảo luận tại hội trường về dự án bộ luật này.
Tổng hợp ý kiến thảo luận tại các tổ ngày 29/5 của Tổng thư ký Quốc hội cho thấy có rất nhiều ý kiến khác nhau về tuổi nghỉ hưu.
Tại dự thảo, Chính phủ trình 2 phương án để Quốc hội xem xét, cho ý kiến.
Phương án 1, tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường: cứ mỗi năm tăng thêm 3 tháng đối với nam và 4 tháng đối với nữ cho đến khi nam đủ 62 tuổi, nữ đủ 60 tuổi.
Phương án 2, tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường: cứ mỗi năm tăng thêm 4 tháng đối với nam và 6 tháng đối với nữ cho đến khi nam đủ 62 tuổi, nữ đủ 60 tuổi.
Chính phủ đề xuất lựa chọn phương án 1 vì đây là phương án có ưu điểm hơn, phòng tránh cao hơn các rủi ro khi điều chỉnh tuổi đối với thị trường lao động, tránh gây sốc thị trường lao động, giữ được ổn định xã hội và phù hợp với thông lệ quốc tế.
Thảo luận tại tổ, nhiều ý kiến tán thành tăng tuổi nghỉ hưu, nhưng cần đánh giá, phân loại và có danh mục cụ thể theo từng nhóm lao động cụ thể để xác định rõ những nhóm có thể tăng tuổi nghỉ hưu (ví dụ: công chức, người làm nghiên cứu khoa học…), những ngành nghề, công việc đặc thù không nên tăng (người lao động trực tiếp, giáo viên mầm non, tiểu học, nghệ sĩ xiếc, người làm nghệ thuật, vận động viên thể thao và cán bộ, công chức cấp xã…).
Nhiều đại biểu đề nghị ban soạn thảo làm rõ cơ sở khoa học của đề xuất tăng tuổi hưu lên 60 đối với nữ và 62 đối với nam, đồng thời phân tích rõ những ưu điểm, nhược điểm của từng phương án về độ tuổi và lộ trình tăng tuổi nghỉ hưu.
Một số ý kiến đề nghị đánh giá tác động toàn diện, thận trọng trên nhiều khía cạnh: tuổi thọ và tuổi thọ mạnh khỏe, đặc thù lao động Việt Nam chủ yếu là lao động giản đơn, thủ công, hao tốn sức lực, các nước trên thế giới tăng tuổi nghỉ hưu do thiếu hụt lao động trong khi Việt Nam có lực lượng lao động trẻ, dồi dào cần được tạo điều kiện tham gia thị trường lao động…
Đại biểu cũng băn khoăn về đề xuất tăng tuổi nghỉ hưu trong bối cảnh đang thực hiện tinh giản biên chế, công tác quy hoạch cán bộ, cơ hội giải quyết việc làm cho lao động trẻ, nhiều doanh nghiệp không muốn sử dụng lao động lớn tuổi…
Tổng thư ký Quốc hội cũng cho biết, một số ý kiến đề nghị quy định tuổi nghỉ hưu của nam và nữ bằng nhau (cùng 60 hoặc 62 tuổi), không nên tăng theo lộ trình mỗi năm mấy tháng khác nhau giữa nam và nữ.
Ý kiến khác cho rằng nên thực hiện tăng tuổi nghỉ hưu theo 2 giai đoạn, trước mắt tăng khoảng 2 - 3 tuổi đối với nữ, 2 tuổi đối với nam, sau một thời gian sẽ điều chỉnh tiếp thì dễ đồng thuận xã hội hơn quy định ngay lộ trình tăng 5 tuổi đối với nữ.
Một số vị đại biểu ý kiến đề nghị thực hiện lộ trình tăng với nam mỗi năm kéo dài 2 tháng, nữ 3 tháng. Có ý kiến đề nghị lộ trình tăng tuổi nghỉ hưu với nữ có thể kéo dài 20 năm hoặc 30 năm để không tạo ra thay đổi quá đột ngột.
Đại biểu cũng góp ý, nên quy định việc tăng tuổi nghỉ hưu trong các luật chuyên ngành như Luật Cán bộ, công chức, Luật Viên chức, Luật Công an nhân dân, Luật Sĩ quan quân đội nhân dân Việt Nam, Luật Tổ chức Toà án nhân dân, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân…; một số ý kiến đề nghị rà soát kỹ và làm rõ khi bộ luật được thông qua thì quy định tuổi nghỉ hưu trong các văn bản pháp luật khác sẽ được sửa đổi thế nào.
Đề nghị nữa của đại biểu là cần làm rõ các vấn đề liên quan đến chế độ bảo hiểm xã hội khi tăng tuổi nghỉ hưu, bổ sung quy định về chế độ bảo hiểm xã hội đối với người đủ tuổi nghỉ hưu nhưng chưa đủ số năm tham gia bảo hiểm xã hội và ngược lạị, bổ sung quy định về tuổi nghỉ hưu đối với lao động làm việc ở khu vực có phụ cấp khu vực 0,7.
Một số vị đại biểu cho rằng cần chú trọng bảo đảm bình đẳng giới trong điều chỉnh tuổi nghỉ hưu, quy định cơ chế để thực hiện quyền nghỉ hưu ở tuổi 55 đối với nữ, 60 đối với nam và tạo điều kiện ưu tiên cho lao động nữ nghỉ hưu sớm.




Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng đề nghị các bộ, ngành, địa phương tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm, chủ trương của Đảng “phát triển nhanh nhưng phải bền vững”; “không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần”; “bảo vệ môi trường phải được đặt ở vị trí trung tâm trong quá trình hoạch định chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và phát triển kinh tế xã hội của từng ngành, từng địa phương”.
Các chuyên gia kinh tế cho rằng để đạt được mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn tới cũng như trở thành nước có thu nhập cao vào năm 2045, việc đẩy mạnh sự phát triển của khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số chính là yêu cầu cấp thiết...
Chủ trì buổi làm việc với Ban Chính sách, chiến lược Trung ương và các cơ quan liên quan về Đề án đổi mới mô hình phát triển đất nước dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh mô hình phát triển mới phải xây dựng năng lực tự chủ sáng tạo của quốc gia.
Lãnh đạo Chính phủ khẳng định, với những người chưa có điều kiện mua nhà, Nhà nước sẽ tạo điều kiện để họ thuê nhà dài hạn, ổn định, với mức giá phù hợp với thu nhập và khả năng chi trả. Nhà ở cho công nhân phải có giá cả hợp lý, đồng thời phải được quy hoạch, xây dựng đồng bộ với các thiết chế văn hóa - xã hội...
Thứ trưởng Lê Công Thành cho rằng việc bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu là nhiệm vụ lâu dài, khó khăn và phức tạp, nhưng cũng là cơ hội để Việt Nam đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao sức chống chịu của nền kinh tế và hướng tới phát triển bền vững. Đây không chỉ là yêu cầu khách quan mà còn là lựa chọn chiến lược để nâng cao chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh quốc gia...
Bức tranh kinh tế của Việt Nam trong tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều chỉ số tăng trưởng tích cực. Điển hình như chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 5 tăng 8,8% so với cùng kỳ; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 11,8%....
Chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng mới, lấy phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính là quan điểm nhất quán hiện nay của Đảng và Nhà nước ta. Với đặc trưng là trung tâm cảng biển, công nghiệp... Hải Phòng có đầy đủ các điều kiện để trở thành địa phương đi đầu trong thí điểm các mô hình phát triển mới.