Ngày 22/10, tại thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk, đã diễn ra Hội thảo tổng kết dự án “Sản xuất ca cao tái sinh nhằm hỗ trợ phát triển sinh kế tại Việt Nam” (ReCoPro). Hội thảo được tổ chức với sự phối hợp giữa công ty Puratos Grand-Place Việt Nam (PGPV) và Tổ chức hợp tác quốc tế Đức (GIZ).
Sự kiện có sự tham gia của hơn 50 đại biểu đến từ các cơ quan nhà nước, tổ chức quốc tế, khu vực tư nhân và cộng đồng hợp tác xã trồng ca cao, nhằm đánh giá kết quả đạt được, chia sẻ kinh nghiệm và thảo luận các giải pháp phát triển ngành ca cao bền vững tại Việt Nam.
Dự án ReCoPro đã ghi dấu một bước tiến quan trọng trong việc phát triển mô hình canh tác ca cao bền vững kết hợp với các sáng kiến nhằm góp phần giảm phát thải khí nhà kính. Từ đó hướng tới mục tiêu chính xây dựng một chuỗi cung ứng ca cao không chỉ hiệu quả về năng suất, mà còn đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe về bảo vệ môi trường và phát thải carbon.
HỢP TÁC VIỆT NAM - ĐỨC TRONG XÂY DỰNG CHUỖI CA CAO ĐẠT GIÁ TRỊ “KÉP”
Phát biểu tại hội thảo, bà Đặng Thị Thủy, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đắk Lắk chỉ rõ tiềm năng lớn của tỉnh trong phát triển nông nghiệp, đặc biệt là cây ca cao. Với diện tích hơn 18.000 km2 và dân số trên 3,3 triệu người, Đắk Lắk hiện là trung tâm của Tây Nguyên, nơi trồng các cây công nghiệp lâu năm như cà phê, hồ tiêu, và ca cao.
Tuy nhiên, bà Thủy cho biết tỉnh cũng đang đối mặt với nhiều thách thức từ biến đổi khí hậu, giá vật tư tăng cao, và thiếu liên kết chuỗi giá trị...
Trong bối cảnh đó, ca cao trở thành cây trồng chiến lược, không chỉ giúp đa dạng hóa sản phẩm mà còn thích ứng với biến đổi khí hậu. Đắk Lắk đang triển khai Đề án phát triển ca cao bền vững, hướng tới xây dựng chuỗi giá trị toàn diện từ sản xuất đến tiêu thụ, gắn với tiêu chí phát thải thấp và tăng trưởng xanh. Tỉnh xác định mục tiêu mở rộng diện tích trồng ca cao lên 1.300 ha vào năm 2030, với sản lượng 1.400 tấn, đồng thời nghiên cứu giống ca cao kháng sâu bệnh và phát triển chế biến sâu.
“Tỉnh cũng đang thực hiện các kế hoạch tăng trưởng xanh, ứng phó với biến đổi khí hậu, với cam kết giảm phát thải khí nhà kính theo mục tiêu quốc gia". Bà Thủy khẳng định "nông nghiệp xanh và carbon thấp sẽ là cơ hội lớn cho nông dân và doanh nghiệp tham gia thị trường tín chỉ carbon, gia tăng giá trị sản phẩm và xây dựng thương hiệu nông sản thân thiện với môi trường”.
Trong đó, dự án "Sản xuất ca cao tái sinh nhằm hỗ trợ phát triển sinh kế tại Việt Nam" (ReCoPro) được triển khai từ tháng 11/2021, là sáng kiến hợp tác giữa Chính phủ Đức và Công ty Puratos Grand-Place Việt Nam (PGPV), với sự hỗ trợ của Tổ chức Hợp tác Quốc tế Đức (GIZ). Dự án này được thực hiện tại các tỉnh Đắk Lắk và Lâm Đồng, kéo dài đến năm 2025.
Từ khi bắt đầu triển khai đến nay, dự án đã hỗ trợ gần 90.000 cây giống cho 300 hộ nông dân, cùng với các buổi tập huấn và mô hình trình diễn thực tế. Hơn 2.000 lượt nông dân đã tham gia các chương trình đào tạo, giúp họ cải thiện kỹ năng canh tác, tối ưu hóa quản lý trang trại và phát triển kinh doanh bền vững.
Dự án không chỉ tập trung vào cải thiện kỹ thuật canh tác mà còn chú trọng vào việc nâng cao năng lực kinh doanh cho các hợp tác xã ca cao. Tham gia dự án, nông dân được hỗ trợ trong việc quảng bá sản phẩm qua nền tảng số, cải thiện bao bì và xây dựng thương hiệu để tiếp cận thị trường trong nước và quốc tế. Những nỗ lực này đã giúp các hợp tác xã không chỉ tăng trưởng về mặt sản xuất mà còn củng cố vị thế cạnh tranh trong ngành ca cao.
LẦN ĐẦU TIÊN THỬ NGHIỆM MÔ HÌNH NÔNG NGHIỆP TÁI SINH
Chia sẻ tại dự kiện, ông Justin Jacquat, Quản lý ca cao khu vực Châu Á- Thái Bình Dương của Puratos Grand-Place nhấn mạnh cam kết xây dựng một chuỗi giá trị ca cao bền vững, không chỉ đảm bảo năng suất mà còn bảo vệ môi trường và phát thải carbon. "Dự án ReCoPro là minh chứng cho việc canh tác ca cao không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn thân thiện với khí hậu.", ông nói.
Hiện tại, dự án ReCoPro đang triển khai ba sáng kiến nổi bật, mang lại giá trị và tiềm năng phát triển.
Thứ nhất, triển khai mô hình nông– lâm kết hợp tại các vườn ca cao. Sáng kiến này giúp nông dân chuyển từ canh tác độc canh sang trồng xen cây rừng và cây ăn quả.
Đây là một giải pháp sáng tạo, không chỉ tạo bóng mát cho cây ca cao là loài cây ưa bóng mà còn gia tăng sự đa dạng sinh học và nâng cao độ phì nhiêu của đất. Mô hình cũng giúp nông dân giảm thiểu rủi ro từ biến đổi khí hậu, đồng thời mở rộng nguồn thu nhập từ các loại cây trồng phụ.
Thứ hai, áp dụng hệ thống tưới nhỏ giọt. Mô hình này giúp tiết kiệm đến 30% lượng nước sử dụng, đồng thời giảm đáng kể nhân lực lao động trong tưới tiêu và bón phân. Bên cạnh đó, nông dân còn được hướng dẫn sử dụng phụ phẩm nông nghiệp như vỏ ca cao và lá cây để sản xuất phân compost, giúp cải thiện độ phì nhiêu của đất mà không làm tăng chi phí đầu vào.
Kết quả từ thực tiễn cho thấy một số vườn mô hình ở Ea Kar, Đắk Lắk đã đạt năng suất cao hơn 1,5 lần so với trước khi áp dụng các phương pháp canh tác tái sinh.
Thứ ba, thử nghiệm cơ chế tài chính carbon trong cộng đồng. Cụ thể, các nông dân tham gia dự án sẽ nhận được hỗ trợ tài chính khuyến khích đối với các cây ca cao sống sót, nhằm bù đắp cho nỗ lực trong việc giảm phát thải khí nhà kính. Trong khuôn khổ sáng kiến, nông dân sẽ nhận hỗ trợ khuyến khích từ 3.000 đến 4.000 đồng cho mỗi cây ca cao sống sót sau hai đợt giám sát đầu tiên.
Đây là bước đi đầu tiên trong việc phát triển một cơ chế tài chính carbon cho cộng đồng nông dân trồng ca cao, góp phần hỗ trợ chuyển đổi sang nông nghiệp xanh, chống chịu với biến đổi khí hậu.
Theo ông Daniel Herrmann, Trưởng khối chính sách khí hậu của GIZ Việt Nam, “Dự án này là minh chứng rõ ràng rằng canh tác ca cao thích ứng với khí hậu không chỉ giúp tăng năng suất và thu nhập cho nông dân, mà còn đóng góp tích cực vào chương trình hành động khí hậu".
"Những bài học từ sự hợp tác giữa Puratos và GIZ trong dự án ReCoPro sẽ định hình các sáng kiến tương lai, mở rộng thực hành canh tác tái sinh và tạo cơ hội cho nhiều nông dân tham gia vào quá trình chuyển đổi xanh của Việt Nam”, ông nhấn mạnh.
ReCoPro là minh chứng rõ ràng cho thấy mô hình canh tác tái sinh, kết hợp với chiến lược kinh doanh bao trùm và thân thiện với khí hậu, có thể xây dựng một ngành ca cao chống chịu, bền vững và cạnh tranh trên thị trường quốc tế.



Sức ép từ thị trường và xu hướng tiêu dùng mới đang buộc nhiều doanh nghiệp khởi nghiệp phải tìm kiếm những động lực phát triển bền vững hơn. Trong bối cảnh đó, đổi mới sáng tạo, R&D và khai thác lợi thế từ nguồn lực bản địa đang nổi lên như những hướng đi giàu tiềm năng...
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng đề nghị các bộ, ngành, địa phương tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm, chủ trương của Đảng “phát triển nhanh nhưng phải bền vững”; “không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần”; “bảo vệ môi trường phải được đặt ở vị trí trung tâm trong quá trình hoạch định chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và phát triển kinh tế xã hội của từng ngành, từng địa phương”.
Dựa trên hướng tiếp cận mới, các nhiệm vụ giải pháp phải có sự đột phá nhưng vẫn có tính kế thừa, thúc đẩy mạnh mẽ sự chuyển biến về nhận thức, hành động, kiến tạo thể chế, chính sách cho phát triển nhanh và bền vững kinh tế biển. Chuyển mạnh từ tư duy nặng về bảo vệ, bảo tồn sang phát triển nhanh và bền vững, chuyển từ phát triển kinh tế ven biển sang phát triển quốc gia hướng biển...
Một thay đổi lớn trong Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo sửa đổi là hoàn thiện chế định giao, cho thuê và đăng ký sử dụng khu vực biển. Dự thảo luật lần đầu tiên nghiên cứu bổ sung các cơ chế như đấu giá quyền sử dụng khu vực biển, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng khu vực biển và hồ sơ hải chính...
Điện sinh khối từ bã mía hiện chiếm hơn 95% tổng công suất điện sinh khối của Việt Nam, song đang gặp nhiều rào cản về cơ chế giá và chính sách phát triển. Mức giá mua điện thấp, quy định phân loại dự án chưa phù hợp và những vướng mắc trong cơ chế thanh toán khiến nguồn năng lượng tái tạo này chưa phát huy hết tiềm năng...
Bức tranh kinh tế của Việt Nam trong tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều chỉ số tăng trưởng tích cực. Điển hình như chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 5 tăng 8,8% so với cùng kỳ; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 11,8%....
Chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng mới, lấy phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính là quan điểm nhất quán hiện nay của Đảng và Nhà nước ta. Với đặc trưng là trung tâm cảng biển, công nghiệp... Hải Phòng có đầy đủ các điều kiện để trở thành địa phương đi đầu trong thí điểm các mô hình phát triển mới.