Theo số liệu điều tra nguồn lợi cá nổi lớn vùng biển Việt Nam do Viện Nghiên cứu hải sản thực hiện, trữ lượng cá ngừ trên các vùng biển của Việt Nam ước đạt hơn 600 nghìn tấn, tập trung chủ yếu ở miền Trung Việt Nam và trung tâm Biển Đông, trong đó cá ngừ vằn là loài khai thác chính, chiếm hơn 50% tổng nguồn lợi cá nổi.
Tại Việt Nam, sản lượng cá ngừ khai thác hàng năm (bao gồm cá ngừ vây vàng, cá ngừ mắt to, cá ngừ vằn và các loại khác) đạt hơn 200 nghìn tấn. Trong đó riêng các chủng loại cá ngừ vây vàng và cá ngừ mắt to có trữ lượng trung bình trên 45 nghìn tấn, với sản lượng khai thác hàng năm từ 17.000 đến 21.000 tấn.
Trong những năm gần đây, cá ngừ luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng kim ngạch xuất khẩu hải sản và là nhóm mặt hàng có giá trị lớn thứ ba trong tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam.
Các sản phẩm cá ngừ của nước ta đã xuất được sang hơn 100 thị trường trên thế giới; trong đó Hoa Kỳ, EU, Trung Đông và các nước thuộc Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) là 4 thị trường tiêu thụ nhiều nhất cá ngừ của Việt Nam, chiếm tỷ trọng từ 82-86% tổng kim ngạch xuất khẩu cá ngừ Việt Nam.
Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) cho biết: kim ngạch xuất khẩu cá ngừ của Việt Nam trong năm 2022 đã thiết lập mức cao kỷ lục, đạt 1,02 tỷ USD, tăng 34% so với năm 2021 và tăng 57,2% so với năm 2020. Các sản phẩm xuất khẩu chủ lực gồm: cá ngừ phi lê, cá ngừ chế biến, cá ngừ đóng hộp, cá ngừ tươi, cá ngừ đông lạnh, cá ngừ khô.
Hai tháng đầu năm 2023, xuất khẩu cá ngừ của nước ta đã suy giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, Hoa Kỳ dù là thị trường xuất khẩu cá ngừ lớn nhất của Việt Nam, nhưng đã giảm tới 63%; EU cũng ghi nhận sự sụt giảm mạnh với 42%, sự sụt giảm này đã khiến EU tụt xuống vị trí thứ 3 trong số các thị trường nhập khẩu nhiều nhất cá ngừ của Việt Nam.
Ngành hàng cá ngừ không chỉ gặp khó ở thị trường xuất khẩu, mà các doanh nghiệp cũng đang gặp khó về các giấy tờ khi thu mua, chế biến, xuất khẩu. Cụ thể, ngày 15/3/2023, VASEP đã có Công văn 22/CV-VASEP gửi Tổng cục Thủy sản và Cục Quản lý chất lượng nông, lâm sản và thủy sản nêu một số vướng mắc, bất cập trong công tác cấp giấy xác nhận nguyên liệu (S/C) và giấy chứng thư an toàn thực phẩm (H/C) phục vụ cho sản xuất, xuất khẩu hải sản sang EU.
Công văn nêu rõ, rất nhiều doanh nghiệp mua cá ngừ vây vàng (yellowfin) nhưng không xin được giấy S/C. Lý do theo giải thích của các Ban quản lý Cảng cá, cá size (cỡ) nhỏ mới đúng là cá ngừ vây vàng, còn cá có size lớn không phải là cá ngừ vây vàng nên cảng cá không cấp S/C. Tuy nhiên, VASEP cũng không tìm thấy có quy định cụ thể nào quy định việc phân biệt hay phân loại cá ngừ vây vàng theo size cỡ như vậy.
Hơn nữa, với lý do triển khai quyết liệt chống IUU (đánh bắt bất hợp pháp) để gỡ “thẻ vàng” của Ủy ban châu Âu, nên một số Ban quản lý Cảng cá không cấp giấy S/C theo số lượng thực tế mà doanh nghiệp đã thu mua, mà chỉ cấp theo số lượng ít hơn. Thậm chí, hiện một số cảng cá ngưng cấp giấy S/C cho các lô nguyên liệu của tàu khai thác dài ngày (trên 1 tháng).
Ngoài ra, VASEP cũng cho biết một số doanh nghiệp đang gặp vướng mắc khi không xin được giấy H/C đối với các lô hàng có nguyên liệu từ tàu khai thác dài ngày. Theo Văn bản số 67/TTCL4-CL của Trung tâm Chất lượng nông lâm thủy sản vùng 4 (NAFIQAD 4) gửi Tổng cục Thủy sản, thì NAFIQAD 4 nghi ngại rằng thời gian từ lúc bắt đầu khai thác đến bốc dỡ nguyên liệu khi cập cảng của tàu cá kéo dài (từ 3 đến 5 tháng) sẽ không đảm bảo an toàn thực phẩm; thời gian trên giấy S/C và trên nhật ký khai thác có sự sai lệch nhau.
Nội dung bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 14-2023 phát hành ngày 03-04-2023. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
https://postenp.phaha.vn/chi-tiet-toa-soan/tap-chi-kinh-te-viet-nam
Trong 5 năm qua, Trung Quốc đã tăng cường sử dụng các biện pháp kiểm soát xuất khẩu, với tần suất áp dụng tăng gấp gần ba lần so với giai đoạn trước đó...
Trong quan hệ buôn bán hàng hóa với nước ngoài, Trung Quốc là thị trường mà Việt Nam nhập khẩu và nhập siêu lớn nhất. Điều này đặt ra nhiều thách thức và cơ hội cho nền kinh tế Việt Nam trong việc cân bằng cán cân thương mại và phát triển bền vững.
Theo UOB, GDP Việt Nam quý 1/2026 tăng 7,83%, vượt kỳ vọng nhờ động lực từ sản xuất, xây dựng và dịch vụ. Tăng trưởng năm 2026 được dự báo duy trì nhịp ổn định trong bối cảnh ngoại thương và FDI tích cực, trong khi các yếu tố lạm phát, năng lượng và địa chính trị vẫn đang được theo dõi...
Mời quý độc giả đón đọc Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 16-2026 phát hành ngày 20/04/2025 với nhiều chuyên mục hấp dẫn...
Căng thẳng kéo dài quanh eo biển Hormuz và việc Mỹ - Iran không đạt đột phá trong đàm phán gần đây cho thấy rủi ro lớn nhất với các nước nhập khẩu năng lượng không chỉ là biến động giá dầu, mà là khả năng bảo đảm nguồn cung trong khủng hoảng. Với Việt Nam, đây là thời điểm cần chuyển từ tư duy “mua rẻ” sang “mua chắc”.
Tọa đàm: “Cú sốc” Hormuz: Bài toán an ninh năng lượng cho Việt Nam do Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức và phát livestream trên nền tảng VnEconomy.vn, FanPage VnEconomy vào lúc 09h00 ngày 17/4/2026...
Tọa đàm: “Cú sốc” Hormuz: Bài toán an ninh năng lượng cho Việt Nam do Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức và phát livestream trên nền tảng VnEconomy.vn, FanPage VnEconomy vào lúc 09h00 ngày 17/4/2026...