Thưa Thống đốc, các chuyên gia cho rằng điều hành tăng trưởng tín dụng là điểm nổi bật trong hoạt động điều hành chính sách tiền tệ năm 2024, bà nói gì về điều này?
Năm 2024, trong bối cảnh thị trường hồi phục chậm do tác động tiêu cực của thời kỳ đại dịch và biến cố địa chính trị trên thế giới, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) chủ động nắm bắt tình hình để hoạt động điều hành chính sách phải bám sát thị trường, nhằm nhanh chóng trợ lực cho hoạt động sản xuất, kinh doanh theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Bởi vậy, khác với nhiều năm trước, ngay từ đầu năm 2024, NHNN đã giao toàn bộ chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng cho các tổ chức tín dụng (TCTD) ở mức khoảng 15% đề ra tại Chỉ thị số 01/CT-NHNN ngày 15/1/2024.
Cụ thể: (i) Ngày 28/8/2024, có văn bản thông báo điều chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2024 cho các TCTD, đồng thời tiếp tục triển khai chủ trương của Quốc hội, Chính phủ về nghiên cứu dỡ bỏ dần biện pháp giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng (một số TCTD được chủ động tăng trưởng tín dụng gồm: Ngân hàng Hợp tác xã, nhóm ngân hàng liên doanh và một số TCTD thuộc nhóm ngân hàng 100% vốn nước ngoài, nhóm công ty tài chính, nhóm công ty cho thuê tài chính).
(ii) Trong điều kiện lạm phát được kiểm soát tốt dưới mức mục tiêu và để kịp thời đáp ứng vốn cho nền kinh tế, hỗ trợ phát triển sản xuất, kinh doanh, ngày 28/11/2024 NHNN đã tiếp tục thông báo điều chỉnh tăng thêm chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2024 theo nguyên tắc cụ thể, đảm bảo công khai, minh bạch.
Đồng thời, NHNN yêu cầu các TCTD: (i) thực hiện nghiêm túc các chỉ đạo về hoạt động tiền tệ, tín dụng, các quy định về cấp tín dụng nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh, bảo đảm an toàn hệ thống và ổn định thị trường tiền tệ.
(ii) Tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả, lành mạnh, hạn chế nợ xấu gia tăng và phát sinh, đảm bảo an toàn hoạt động của TCTD; hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất, lĩnh vực ưu tiên và các lĩnh vực là động lực tăng trưởng kinh tế theo chủ trương của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro. Cấp tín dụng đối với khách hàng theo đúng quy định của pháp luật, tăng cường biện pháp rủi ro tín dụng, đảm bảo chất lượng tín dụng.
Bà có thể cho biết cụ thể tín dụng trong năm qua được phân bổ vào nền kinh tế như thế nào?
Về cơ cấu tín dụng, năm 2024, cơ cấu tín dụng tiếp tục có những bước chuyển biến tích cực, tập trung chủ yếu vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh; trong đó, có một số ngành kinh tế trọng điểm tăng cao hơn so với mức tăng chung của toàn hệ thống hoặc tăng cao hơn so với mức tăng của cùng kỳ năm trước.
Cụ thể: tín dụng đối với ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,52% so với cuối năm 2023, chiếm tỷ trọng 12,96% (cùng kỳ năm 2023 tăng 6,25%); ngành khai khoáng tăng 12,13% (cùng kỳ năm 2023 giảm 11,77%); ngành xây dựng tăng 5,46% (cùng kỳ năm 2023 tăng 1,74%); ngành nông, lâm, thủy sản tăng 4,92% (cùng kỳ năm 2023 tăng 2,72%); ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 12,55% (cùng kỳ năm 2023 tăng 4,85%);…
Tương tự, tín dụng đối với các lĩnh vực ưu tiên chiếm tỷ trọng cao hoặc có tốc độ tăng trưởng tín dụng cao hơn mức tăng trưởng tín dụng chung, phù hợp với định hướng của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, NHNN. Cụ thể: So với cuối năm 2023, dư nợ tín dụng đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn tăng 6,8%, chiếm tỷ trọng 23,55% tổng dư nợ nền kinh tế; tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng 5,14%, chiếm tỷ trọng 17,46%; lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ tăng 21,57%; doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao tăng 29,54%.
Trong thời gian tới, ngành Ngân hàng sẽ tiếp tục điều hành tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả, hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các lĩnh vực là động lực tăng trưởng kinh tế theo chủ trương của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Đồng thời, tăng cường triển khai các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho khách hàng như cơ cấu lại thời hạn trả nợ, giữ nguyên nhóm nợ, cơ cấu lại nợ phù hợp với dòng tiền (đặc biệt là những đối tượng chịu ảnh hưởng do cơn bão số 3),... từ đó tạo điều kiện cho khách hàng được tiếp tục vay mới nhằm duy trì, phục hồi sản xuất kinh doanh.
Qua quan sát thị trường có thể thấy 2 năm 2023-2024, ngành ngân hàng tổ chức các cuộc kết nối ngân hàng – doanh nghiệp với tần suất dày đặc. Thông qua hoạt động này, những nút thắt nào trong tiếp cận tín dụng được tháo gỡ, thưa Thống đốc?
Chương trình kết nối ngân hàng - doanh nghiệp được triển khai từ năm 2014, với hàng chục nghìn cuộc đối thoại kết nối đã được tổ chức trong 10 năm qua; trong đó, riêng năm 2023 đến hết quý 3/2024 đã tổ chức gần 2.000 cuộc đối thoại, kết nối thông qua nhiều hình thức và quy mô đa dạng trên toàn quốc và tại các địa phương, nhằm nắm bắt các khó khăn, vướng mắc và kịp thời có giải pháp tháo gỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong quan hệ tín dụng ngân hàng. Chương trình không chỉ giúp tháo gỡ các nút thắt trong quan hệ tín dụng, mà còn tạo điều kiện mang lại nhiều lợi ích cho cả khách hàng và TCTD.
Về phía khách hàng: (i) được tiếp cận nguồn vốn vay với lãi suất hợp lý; các khó khăn, vướng mắc được ngành ngân hàng và các cơ quan liên quan (sở, ban, ngành) tìm giải pháp tháo gỡ; (ii) được kịp thời cập nhật thông tin cơ chế, chính sách về tín dụng, thanh toán, tiền gửi,… và các chương trình, sản phẩm của các tổ chức tín dụng.
(iii) Đối với các khách hàng gặp khó khăn về dòng tiền do ảnh hưởng của dịch bệnh, thiên tai,… được các TCTD áp dụng chính sách cơ cấu lại thời hạn trả nợ, giữ nguyên nhóm nợ, giúp khách hàng được cơ cấu lại nợ phù hợp với dòng tiền mà không bị chuyển sang nhóm nợ có mức độ rủi ro cao hơn; từ đó tạo điều kiện cho khách hàng được tiếp tục vay mới nhằm duy trì, phục hồi sản xuất kinh doanh.
Về phía các TCTD: thông qua chương trình giúp các TCTD khơi thông được dòng vốn, tăng trưởng tín dụng bền vững, chất lượng, an toàn, hiệu quả, nâng cao tính chủ động và trách nhiệm chia sẻ khó khăn với khách hàng từ phía các ngân hàng.
Trong thời gian tới, NHNN sẽ tiếp tục đẩy mạnh hoạt động kết nối ngân hàng – doanh nghiệp với hình thức phù hợp, nhằm kịp thời nắm bắt khó khăn vướng mắc và có giải pháp tháo gỡ, tạo thuận lợi trong quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng.
Tuy nhiên, vẫn có nhiều kiến nghị ngân hàng nới lỏng điều kiện vay, cho vay mà không cần tài sản thế chấp, Thống đốc nói gì về vấn đề này?
Việc tiếp cận vốn tín dụng là một trong những vấn đề được Chính phủ và NHNN quan tâm sâu sắc và đã có các chỉ đạo để tháo gỡ. Trong quá trình đó, các kiến nghị nới lỏng điều kiện vay, thậm chí cho vay mà không yêu cầu tài sản thế chấp, xuất phát từ một số lý do, trong đó có lý do đến từ khó khăn trong việc tiếp cận vốn của một bộ phận doanh nghiệp chưa đáp ứng đủ điều kiện vay, chưa có phương án kinh doanh khả thi và không có tài sản bảo đảm. Chúng ta cần xem xét kiến nghị này trên hai khía cạnh.
Một là, về điều kiện cấp tín dụng:
Thứ nhất, các quy định về điều kiện cấp tín dụng được quy định tại Luật Các tổ chức tín dụng. Trên cơ sở đó, NHNN đã ban hành quy định về hoạt động cho vay của TCTD đối với khách hàng; từng bước hoàn thiện các quy định để phù hợp với tình hình thực tiễn và yêu cầu quản lý.
Các quy định về điều kiện cấp tín dụng tại Luật Các tổ chức tín dụng và quy định của NHNN nhằm đảm bảo nguyên tắc có hoàn trả, an toàn và hiệu quả của hoạt động cấp tín dụng. Việc quy định các điều kiện cấp tín dụng là cần thiết để đảm bảo chất lượng tín dụng, kiểm soát nợ xấu phát sinh và kiến nghị nới lỏng các điều kiện này cần cân nhắc, đánh giá hết sức kỹ lưỡng.
Thứ hai, phương châm điều hành tín dụng xuyên suốt của NHNN là tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả, nâng cao chất lượng tín dụng nhằm duy trì sự ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an toàn hoạt động hệ thống ngân hàng. Do đó, để tạo điều kiện thuận lợi trong tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng, NHNN thường xuyên chỉ đạo các TCTD trong quá trình xem xét cho vay chủ động rà soát, đơn giản hóa thủ tục cấp tín dụng, ứng dụng chuyển đổi số để đẩy nhanh tốc độ, thời gian xử lý đề nghị của khách hàng... nhưng vẫn phải tuân thủ đúng điều kiện cấp tín dụng theo Luật Các tổ chức tín dụng.
NHNN thực hiện các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng tín dụng để góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế nhưng không đồng nghĩa với việc nới lỏng hay điều chỉnh điều kiện cho vay bằng mọi giá, đặc biệt trong bối cảnh của Việt Nam, hệ thống ngân hàng là kênh dẫn vốn chủ yếu phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh, đóng vai trò là huyết mạch của nền kinh tế.
Thực tế thời gian qua, để tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng nhằm khôi phục, phát triển và thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh, ngành ngân hàng đã và đang triển khai đồng bộ các giải pháp về tiền tệ, tín dụng; các chương trình, chính sách như: sẵn sàng nguồn vốn cung ứng cho nền kinh tế, giảm lãi suất cho vay, thực hiện chính sách cơ cấu lại thời hạn trả nợ, giữ nguyên nhóm nợ đối với khách hàng gặp khó khăn do dịch Covid-19, tổ chức các hội nghị kết nối ngân hàng - doanh nghiệp để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về tiếp cận tín dụng...
Hai là, liên quan đến tài sản thế chấp:
Theo quy định hiện hành, hoạt động cho vay của TCTD đối với khách hàng thực hiện trên cơ sở thỏa thuận giữa khách hàng và TCTD, phù hợp với quy định pháp luật. Theo đó, TCTD và khách hàng được quyền thỏa thuận việc áp dụng hay không áp dụng biện pháp bảo đảm tiền vay, phù hợp với quy định của pháp luật về biện pháp bảo đảm tiền vay và pháp luật có liên quan.
Thực tế, thời gian qua, các TCTD đã và đang thực hiện nhiều biện pháp bảo đảm tiền vay với nhiều loại hình tài sản khác nhau, hoặc cho vay không có tài sản bảo đảm trên cơ sở đánh giá phương án, dự án sản xuất kinh doanh hiệu quả, khả năng tài chính của khách hàng để hoàn trả nợ vay đầy đủ, đúng hạn cả gốc và lãi, dựa trên uy tín tín dụng, dòng tiền…
Về phía NHNN, với vai trò là cơ quan quản lý và đảm bảo sự hoạt động an toàn, hiệu quả của hệ thống ngân hàng, NHNN đã chỉ đạo TCTD xây dựng quy trình thu thập khai thác thông tin để đánh giá tín nhiệm của khách hàng từ các tổ chức hoạt động chính thức (như Trung tâm thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam, các tổ chức xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp) kết hợp với hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ của TCTD, từ đó nâng cao hiệu quả thẩm định và đánh giá mức độ tín nhiệm của khách hàng vay nhằm tăng cường khả năng cho vay không có bảo đảm bằng tài sản.
Đồng thời, NHNN cũng thường xuyên chỉ đạo các TCTD rà soát, đơn giản hóa thủ tục, hồ sơ vay vốn, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng, đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ tín dụng ngân hàng phù hợp với từng phân khúc khách hàng và thị trường, loại hình, nhu cầu sản xuất kinh doanh của người dân, doanh nghiệp…; tích cực rà soát các dự án để đảm bảo cung ứng tín dụng kịp thời cho các dự án khả thi, đẩy nhanh việc xét duyệt cho vay, áp dụng các biện pháp, hình thức tài sản đảm bảo cho vay linh hoạt, phù hợp với quy định của pháp luật, thuận lợi cho khách hàng vay vốn…
Các chuyên gia cho rằng, việc nới lỏng điều kiện vay nhưng phải kèm theo sự nắm bắt dòng tiền của doanh nghiệp để kiểm soát rủi ro, trong điều kiện giảm tỷ lệ tài sản đảm bảo, ý kiến của bà như thế nào, thưa bà?
Việc nới lỏng điều kiện cho vay mà không cần tài sản bảo đảm có thể làm tăng nguy cơ rủi ro tín dụng, nhất là đối với các doanh nghiệp có sức khỏe tài chính còn yếu. Do đó, việc mở rộng hình thức này cần phù hợp với năng lực quản trị, cơ cấu nguồn vốn của mỗi TCTD và dựa trên đánh giá kỹ về nhiều yếu tố, đặc biệt là phương án sản xuất kinh doanh, khả năng trả nợ, sức khỏe tài chính của khách hàng.
Đồng thời, việc mở rộng hình thức này cần được thực hiện đi kèm với các biện pháp kiểm soát rủi ro phù hợp, hệ thống quản trị rủi ro chặt chẽ, kết hợp với việc ứng dụng công nghệ trong đánh giá tín dụng để tránh tình trạng nợ xấu gia tăng, ảnh hưởng đến an toàn hệ thống của các TCTD.
Trong thời gian tới, NHNN sẽ tiếp tục thực hiện các giải pháp tín dụng phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, lạm phát, đáp ứng nhu cầu vốn tín dụng cho nền kinh tế. Chỉ đạo các TCTD tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả, hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và triển khai các chương trình, chính sách tín dụng đặc thù đối với một số ngành, lĩnh vực theo chủ trương, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro.
Đồng thời, tiếp tục thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn trong tiếp cận tín dụng ngân hàng, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân trong tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng.
VnEconomy 29/01/2025 07:00
Nội dung đầy đủ của bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 4 5-2025 phát hành ngày 27/1/2025. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
https://postenp.phaha.vn/tap-chi-kinh-te-viet-nam/detail/1194
Trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, ông Chu Thắng Trung, Phó Cục trưởng Cục Phòng vệ thương mại (Bộ Công Thương), khẳng định: “Để không bị loại khỏi cuộc chơi, doanh nghiệp buộc phải từ bỏ tư duy ‘đến đâu đỡ đến đấy’ và bắt đầu đầu tư thực chất vào năng lực quản trị dữ liệu để tự bảo vệ mình”.
Trước những “cơn gió ngược” từ rủi ro đứt gãy chuỗi cung ứng, nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong quý 2/2026 là phải bảo đảm bằng được nguồn cung đầu vào, ổn định an ninh năng lượng và logistics, đồng thời theo dõi sát diễn biến cầu thế giới để có phản ứng chính sách phù hợp.
Từ ngày 15/04 đến 19/04/2026, tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam (66 Nguyễn Thái Học, Hà Nội), công chúng sẽ có cơ hội đắm mình trong không gian nghệ thuật độc đáo của triển lãm mang tên “Cuộc chơi với lá”…
Trong bối cảnh công nghiệp hiện nay, môi trường xây dựng là một trong những đòn bẩy rõ ràng nhất để đạt được mục tiêu khử carbon và an ninh năng lượng quốc gia. Tác động của lĩnh vực này rất đáng kể: hệ thống xây dựng tiêu thụ khoảng 32% năng lượng toàn cầu và đóng góp khoảng 34% lượng khí thải CO₂ toàn cầu. Chính phủ các nước trên thế giới đã ban hành nhiều quy định khác nhau để khuyến khích việc áp dụng các công trình xanh và vật liệu tiết kiệm năng lượng. Nếu các chính sách hỗ trợ được duy trì và nhận thức của công chúng tiếp tục lên cao, nhu cầu thị trường xây dựng bền vững dự kiến sẽ tăng tốc đáng kể trong tương lai gần.
Xung đột tại Trung Đông cùng đà tăng phi mã của giá nhiên liệu đang tạo ra áp lực rất lớn lên chuỗi cung ứng toàn cầu, đẩy các doanh nghiệp logistics và xuất khẩu Việt Nam vào thế khó. Việc chi phí vận tải biển tăng 25-35%, phí bảo hiểm leo thang và thời gian giao hàng kéo dài không chỉ bào mòn lợi nhuận mà còn trực tiếp đe dọa sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Trong bối cảnh “áp lực kép” từ chi phí đầu vào và sức mua toàn cầu sụt giảm, yêu cầu cấp thiết là phải xây dựng được cơ chế hỗ trợ đủ mạnh để nâng cao sức chống chịu cho hệ thống logistics quốc gia. Tuy nhiên, biến động hiện nay cũng là “phép thử” quan trọng để sàng lọc năng lực và thúc đẩy doanh nghiệp tái cấu trúc. Từ việc chuyển dịch trọng tâm sang các thị trường gần như Trung Quốc, ASEAN đến chiến lược tối ưu hóa vận hành và đẩy mạnh chuyển đổi số, nhiều doanh nghiệp đang nỗ lực tìm kiếm lối đi bền vững, sẵn sàng bứt phá khi thị trường hồi phục theo nguyên lý “lò xo nén”.
Tọa đàm: “Cú sốc” Hormuz: Bài toán an ninh năng lượng cho Việt Nam do Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức và phát livestream trên nền tảng VnEconomy.vn, FanPage VnEconomy vào lúc 09h00 ngày 17/4/2026...
Tọa đàm: “Cú sốc” Hormuz: Bài toán an ninh năng lượng cho Việt Nam do Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức và phát livestream trên nền tảng VnEconomy.vn, FanPage VnEconomy vào lúc 09h00 ngày 17/4/2026...