Những cảnh báo của cơ quan khí tượng, các viện nghiên cứu thủy lợi và chính quyền địa phương đã cho thấy, bài toán bảo vệ vùng đồng bằng trũng thấp rộng lớn này đã ở trạng thái cấp bách.
TRIỀU CƯỜNG DÂNG CAO, NGẬP ÚNG LAN RỘNG: ÁP LỰC TRỰC DIỆN LÊN ĐÊ BAO
Những ngày đầu tháng 10 âm lịch này, nhiều khu vực ở Đồng Tháp liên tục ngập sâu do triều cường lên mức cao nhất từ đầu năm. Ghi nhận của Đài Khí tượng Thủy văn Đồng Tháp cho thấy, mực nước tại trạm Cao Lãnh đạt 233 cm, vượt báo động III; tại Mỹ Thuận đạt 205 cm, Cai Lậy 180 cm và Mỹ Tho 186 cm.
Nhiều tuyến đường và khu dân cư thấp trũng bị ngập, sinh hoạt và sản xuất đều bị ảnh hưởng. Triều cường mạnh cũng làm nước tràn qua một số đoạn bờ bao yếu, khiến địa phương phải trực gác liên tục để ngăn nguy cơ vỡ đê.
Cùng thời điểm, Viện Khoa học Thủy lợi Miền Nam (VAWR) cảnh báo nhiều khu vực trong vùng có khả năng tiếp tục xuất hiện ngập úng do kết hợp giữa triều cường, mưa trái mùa và dòng chảy yếu từ thượng nguồn.
PGS.TS Trần Bá Hoằng, Viện trưởng VAWR, phân tích: Địa hình đồng bằng thấp, mạng lưới sông rạch dày đặc, khi gặp mực nước biển dâng và triều đạt đỉnh sẽ khiến nước không kịp thoát, từ đó gây ngập kéo dài. Cảnh báo này cũng trùng khớp với thực tế khi nhiều địa phương cho biết, nước rút rất chậm so với mọi năm.
Tình trạng ngập sâu kéo dài khiến hệ thống đê bao và bờ bao - tuyến phòng thủ chính của các vùng sản xuất lúa, cây ăn trái - chịu áp lực ngày càng lớn. Nhiều nơi ghi nhận bờ bao bị thấm, sạt mái hoặc lún kéo dài sau thời gian ngập. Trong bối cảnh mưa triều và sụt lún diễn biến phức tạp, đây chính là nguy cơ tiềm tàng của những sự cố đê nghiêm trọng hơn.
Sụt lún và sạt lở lan rộng còn đe dọa an toàn dân cư và tính bền vững của đê điều. Không chỉ đối mặt với ngập úng, vùng đồng bằng còn đang chịu tác động của sụt lún đất và sạt lở bờ sông, bờ biển.
Theo VAWR, chỉ tính riêng toàn vùng đã có hàng trăm điểm sạt lở, trong đó nhiều điểm được xếp loại nguy hiểm. Mưa lớn, dòng chảy thay đổi và tác động của triều cường khiến các điểm sạt lở xuất hiện với tần suất dày hơn. Tại một số khu vực, sạt lở đã ăn sâu vào sát chân đê, làm tăng nguy cơ mất an toàn cho cả tuyến đê lẫn người dân sinh sống ven sông.
Phân tích của các chuyên gia VAWR cho thấy việc khai thác nước ngầm kéo dài khiến nền đất hạ thấp, làm giảm cao trình tự nhiên của nhiều vùng. Khi nền đất lún xuống, mực nước vốn chỉ ngang bờ kênh nay đã vượt mép, gây ngập ngay cả khi triều không quá cao.
Tình trạng này đã được các chuyên gia cảnh báo trong nhiều hội thảo gần đây, đồng thời nhấn mạnh rằng chống ngập cho đồng bằng không chỉ là xử lý bề mặt, mà cần xem xét toàn diện từ chuyển đổi nguồn nước đến quy hoạch lại không gian thoát nước.
Sạt lở lan rộng không chỉ làm mất đất sản xuất mà còn uy hiếp trực tiếp các tuyến đê bao, đường giao thông, trường học và nhà dân. Nhiều địa phương phải đặt biển cảnh báo, khoanh vùng nguy hiểm và di dời dân khẩn cấp. Điều này cho thấy tác động tổng hợp của biến đổi khí hậu, triều cường và sụt lún đang đạt đến ngưỡng mà năng lực ứng phó hiện nay của nhiều nơi khó có thể theo kịp.
HÀNH ĐỘNG NGAY VỚI CÁC GIẢI PHÁP ĐỒNG BỘ VÀ KHOA HỌC ĐỂ BẢO VỆ ĐỒNG BẰNG
Trước tình huống ngày càng cấp bách, các chuyên gia thủy lợi khuyến cáo cần có chiến lược ứng phó tổng thể, thay vì những giải pháp rời rạc theo từng mùa triều như tăng cường hệ thống dự báo mưa, lũ, triều cường và dòng chảy ngay từ đầu năm, kết hợp dữ liệu của các trạm ven biển và các trạm thượng nguồn.
Cơ quan chuyên môn cũng cho rằng chính quyền các tỉnh cần chủ động kịch bản cho các đỉnh triều lớn đang có xu hướng xuất hiện sớm và kéo dài hơn.
Một hướng tiếp cận quan trọng là rà soát các tuyến đê bao hiện hữu, ưu tiên nâng cấp các đoạn xung yếu, đồng thời xây dựng phương án phân lũ - chứa lũ theo hướng “thuận thiên”, hạn chế khép kín toàn bộ đê bao ở những khu vực thấp trũng: Khi có vùng chứa lũ tự nhiên, áp lực lên đê giảm, quá trình thoát nước nhanh hơn và nguy cơ vỡ đê cũng được hạn chế.
Cùng với đó, việc giảm khai thác nước ngầm cần được thúc đẩy mạnh, bởi đây là nguyên nhân quan trọng làm gia tăng sụt lún. Các tỉnh đang đẩy nhanh tiến độ xây dựng hệ thống cấp nước tập trung để giảm phụ thuộc vào giếng khoan hộ gia đình.
ThS. Nguyễn Hữu Thiện, chuyên gia nghiên cứu độc lập về môi trường đồng bằng sông Cửu Long đề nghị cần hạn chế khai thác nước ngầm, đặc biệt tại đô thị, và tăng sử dụng nước mặt từ sông, kênh, rạch để thay thế.
Ông cũng đưa ra các khuyến nghị khôi phục không gian trữ lũ tự nhiên, theo hướng “thuận thiên”. Cụ thể, cần “mở cống đê bao” để dòng lũ có không gian lan tỏa, hướng đến phát triển bền vững vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Các chương trình truyền thông - giáo dục cộng đồng cũng được cho là cần thiết. Các diễn đàn, tọa đàm như diễn đàn “Nâng cao năng lực cộng đồng trong phòng chống thiên tai vùng đồng bằng sông Cửu Long ở Cần Thơ, được đánh giá như các buổi tập huấn mà Viện Quy hoạch Thủy lợi Miền Nam (SIWRD) phối hợp với nhiều cơ quan tổ chức cho người dân địa phương đã cho thấy hiệu quả rõ rệt giúp cộng đồng nhận diện sớm các dấu hiệu sụt lún, sạt lở, từ đó báo tin kịp thời cho chính quyền.
Giải pháp tài chính cho chống ngập và bảo vệ đê điều cũng là một yêu cầu cấp thiết. Nhiều địa phương đề xuất cơ chế ưu tiên vốn cho xử lý sạt lở khẩn cấp và gia cố đê xung yếu, đồng thời tăng đầu tư cho hệ thống quan trắc nước ngầm và đo lún tự động để có dữ liệu cập nhật, phục vụ công tác cảnh báo.
Đồng bằng sông Cửu Long đang đối mặt với giai đoạn biến động lớn nhất trong nhiều thập niên. Ngập úng không còn là hiện tượng theo mùa, mà trở thành một thách thức thường trực, kết hợp sụt lún và sạt lở tạo nên vòng xoáy rủi ro cho hệ thống đê điều và an toàn dân cư.
Đây cũng không còn là vấn đề của từng tỉnh, mà là bài toán sống còn của toàn vùng. Do vậy, việc hành động sớm, đồng bộ và dựa trên khoa học sẽ quyết định khả năng bảo vệ đồng bằng - nơi sinh kế của hàng triệu người - trong hiện tại và tương lai.



Sức ép từ thị trường và xu hướng tiêu dùng mới đang buộc nhiều doanh nghiệp khởi nghiệp phải tìm kiếm những động lực phát triển bền vững hơn. Trong bối cảnh đó, đổi mới sáng tạo, R&D và khai thác lợi thế từ nguồn lực bản địa đang nổi lên như những hướng đi giàu tiềm năng...
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng đề nghị các bộ, ngành, địa phương tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm, chủ trương của Đảng “phát triển nhanh nhưng phải bền vững”; “không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần”; “bảo vệ môi trường phải được đặt ở vị trí trung tâm trong quá trình hoạch định chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và phát triển kinh tế xã hội của từng ngành, từng địa phương”.
Dựa trên hướng tiếp cận mới, các nhiệm vụ giải pháp phải có sự đột phá nhưng vẫn có tính kế thừa, thúc đẩy mạnh mẽ sự chuyển biến về nhận thức, hành động, kiến tạo thể chế, chính sách cho phát triển nhanh và bền vững kinh tế biển. Chuyển mạnh từ tư duy nặng về bảo vệ, bảo tồn sang phát triển nhanh và bền vững, chuyển từ phát triển kinh tế ven biển sang phát triển quốc gia hướng biển...
Một thay đổi lớn trong Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo sửa đổi là hoàn thiện chế định giao, cho thuê và đăng ký sử dụng khu vực biển. Dự thảo luật lần đầu tiên nghiên cứu bổ sung các cơ chế như đấu giá quyền sử dụng khu vực biển, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng khu vực biển và hồ sơ hải chính...
Điện sinh khối từ bã mía hiện chiếm hơn 95% tổng công suất điện sinh khối của Việt Nam, song đang gặp nhiều rào cản về cơ chế giá và chính sách phát triển. Mức giá mua điện thấp, quy định phân loại dự án chưa phù hợp và những vướng mắc trong cơ chế thanh toán khiến nguồn năng lượng tái tạo này chưa phát huy hết tiềm năng...
Bức tranh kinh tế của Việt Nam trong tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều chỉ số tăng trưởng tích cực. Điển hình như chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 5 tăng 8,8% so với cùng kỳ; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 11,8%....
Chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng mới, lấy phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính là quan điểm nhất quán hiện nay của Đảng và Nhà nước ta. Với đặc trưng là trung tâm cảng biển, công nghiệp... Hải Phòng có đầy đủ các điều kiện để trở thành địa phương đi đầu trong thí điểm các mô hình phát triển mới.