Chiều ngày 2/12/2025, Quốc hội thảo luận tại hội trường về Chủ trương đầu tư Chương trình Mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026 – 2035.
Các đại biểu đều khẳng định đây là một quyết sách chiến lược nhằm đảm bảo mọi người dân đều được tiếp cận giáo dục chất lượng và bình đẳng.
Theo tờ trình, thời gian thực hiện Chương trình là 10 năm, từ năm 2026 đến năm 2035, chia làm 2 giai đoạn, tổng vốn là hơn 580.000 tỷ đồng được huy động từ nhiều nguồn. Chương trình hướng đến mục tiêu tổng quát là chuẩn hóa, hiện đại hóa toàn diện hệ thống giáo dục đào tạo.
Theo đại biểu Trần Hoàng Ngân, Đoàn đại biểu Quốc hội TP.Hồ Chí Minh, trong cấu trúc vốn của chương trình giai đoạn 2026–2030 chỉ được phân bổ 174.673 tỷ đồng – một con số quá thấp so với khối lượng việc phải hoàn thành.
Đại biểu cho rằng bình quân mỗi năm chương trình chỉ có khoảng 20.000 tỷ đồng từ ngân sách trung ương, với nhu cầu và mục tiêu đặt ra thì số tiền này rất khiêm tốn. Theo đại biểu, giai đoạn đầu quyết định nền móng nhưng lại chưa được phân bổ tương xứng để tạo chuyển biến thực chất.
Từ phân tích đó, đại biểu Trần Hoàng Ngân chỉ ra các nhóm nhiệm vụ cần ưu tiên vốn sớm như kiên cố hóa trường lớp trước tác động ngày càng khắc nghiệt của biến đổi khí hậu; xây dựng phòng học tiếng Anh, STEM, trung tâm thực hành – thí nghiệm; mở rộng các thiết chế hỗ trợ đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp trong trường học; bổ sung cơ sở vật chất đồng bộ cho giáo dục phổ thông.
Đại biểu cũng cho rằng cần xem xét giảm phần đầu tư quá lớn dành cho các dự án đại học mà ưu tiên cho mầm non – phổ thông – giáo dục nghề nghiệp, nơi “đang khuyết” và chịu tác động mạnh nhất từ chênh lệch vùng, miền.
Còn đại biểu Chu Thị Hồng Thái, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Lạng Sơn, cho rằng việc dồn 70% vốn sang giai đoạn sau là rủi ro lớn, dễ dẫn tới dồn việc, dồn chỉ tiêu.
Theo đại biểu Chu Thị Hồng Thái, trong dự thảo Nghị quyết có nêu ra những con số như hơn 405.000 tỷ đồng (tương đương hơn 70% vốn) được dành cho giai đoạn 2031–2035), trong khi giai đoạn 2026–2030 chỉ bố trí trên 174.000 tỷ đồng (tương đương 30% vốn) sẽ tạo ra sự chênh lệch rất lớn.
Đại biểu nhấn mạnh giai đoạn 2026–2030 được xác định hoàn thành hàng loạt mục tiêu nền tảng như kiên cố hóa phòng học, nhà công vụ giáo viên, đầu tư cho 18 trường cao đẳng, đạt chuẩn 30% cơ sở giáo dục đại học… nhưng nguồn lực phân bổ lại không đủ để tạo chuyển biến rõ rệt.
Việc dồn vốn sang giai đoạn sau còn mang theo “rủi ro kép” vì sau năm 2030, khả năng cân đối ngân sách còn nhiều biến động, khó dự đoán, việc trông chờ nguồn lực đến sau dễ khiến chương trình rơi vào trạng thái “đầu chậm, cuối vội”.
Do đó, đại biểu đề nghị Chính phủ cần tính toán lại cơ cấu phân kỳ vốn theo hướng tăng tỉ trọng giai đoạn 2026–2030, bảo đảm đủ nguồn lực để hoàn thành các mục tiêu nền tảng, nhất là các vùng khó khăn.
Đại biểu Chu Thị Hồng Thái cũng đề xuất quy định rõ thứ tự ưu tiên vốn là các vùng dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới và các xã đặc biệt khó khăn phải được bố trí vốn trước để tạo chuyển biến ngay từ giai đoạn đầu.
Phân tích thêm về cơ cấu nguồn vốn, đại biểu Lê Minh Nam, Đoàn đại biểu Quốc hội TP Cần Thơ, cho biết theo số liệu của dự thảo Nghị quyết, đầu tư cho giáo dục đại học là 277.000 tỷ đồng (chiếm 47,8% tổng vốn chương trình), trong khi giáo dục nghề nghiệp là 59.000 tỷ đồng (chiếm 10,3% tổng vốn chương trình).
Theo đại biểu Lê Minh Nam, mục tiêu đào tạo nhân lực kỹ năng đáp ứng thị trường lao động, chủ yếu nằm ở hệ thống giáo dục nghề nghiệp nhưng phân bổ vốn lại đi theo hướng ngược lại. Hệ quả là nhu cầu nhân lực thực tế và cơ cấu đầu tư không đi cùng nhau. Vì vậy, đại biểu kiến nghị dự thảo Nghị quyết cần tính toán lại việc phân bổ nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu nhân lực thực sự.
Đại biểu Nguyễn Thị Lan Anh, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Lào Cai, cũng đề xuất cần điều chỉnh lại tỷ trọng vốn cho giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học; xây dựng cơ chế PPP rõ ràng, nhất là trong đào tạo nghề gắn với doanh nghiệp.
Đại biểu Thạch Phước Bình, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Vĩnh Long, kiến nghị cần xem xét điều chỉnh lại tỷ trọng giữa vốn đầu tư công và chi thường xuyên theo hướng tăng tỷ lệ chi cho con người, nhất là kinh phí dành cho đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và cán bộ quản lý; thay vì dồn quá nhiều vốn vào đầu tư xây dựng cơ bản và mua sắm trang thiết bị.
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng đề nghị các bộ, ngành, địa phương tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm, chủ trương của Đảng “phát triển nhanh nhưng phải bền vững”; “không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần”; “bảo vệ môi trường phải được đặt ở vị trí trung tâm trong quá trình hoạch định chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và phát triển kinh tế xã hội của từng ngành, từng địa phương”.
Các chuyên gia kinh tế cho rằng để đạt được mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn tới cũng như trở thành nước có thu nhập cao vào năm 2045, việc đẩy mạnh sự phát triển của khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số chính là yêu cầu cấp thiết...
Chủ trì buổi làm việc với Ban Chính sách, chiến lược Trung ương và các cơ quan liên quan về Đề án đổi mới mô hình phát triển đất nước dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh mô hình phát triển mới phải xây dựng năng lực tự chủ sáng tạo của quốc gia.
Lãnh đạo Chính phủ khẳng định, với những người chưa có điều kiện mua nhà, Nhà nước sẽ tạo điều kiện để họ thuê nhà dài hạn, ổn định, với mức giá phù hợp với thu nhập và khả năng chi trả. Nhà ở cho công nhân phải có giá cả hợp lý, đồng thời phải được quy hoạch, xây dựng đồng bộ với các thiết chế văn hóa - xã hội...
Thứ trưởng Lê Công Thành cho rằng việc bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu là nhiệm vụ lâu dài, khó khăn và phức tạp, nhưng cũng là cơ hội để Việt Nam đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao sức chống chịu của nền kinh tế và hướng tới phát triển bền vững. Đây không chỉ là yêu cầu khách quan mà còn là lựa chọn chiến lược để nâng cao chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh quốc gia...
Bức tranh kinh tế của Việt Nam trong tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều chỉ số tăng trưởng tích cực. Điển hình như chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 5 tăng 8,8% so với cùng kỳ; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 11,8%....
Chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng mới, lấy phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính là quan điểm nhất quán hiện nay của Đảng và Nhà nước ta. Với đặc trưng là trung tâm cảng biển, công nghiệp... Hải Phòng có đầy đủ các điều kiện để trở thành địa phương đi đầu trong thí điểm các mô hình phát triển mới.