Bộ Tài nguyên và Môi trường đang dự thảo Thông tư ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường đối với bãi chôn lấp chất thải rắn. Quy chuẩn quy định các yêu cầu kỹ thuật về môi trường và yêu cầu quản lý bắt buộc phải tuân thủ đối với bãi chôn lấp chất thải rắn.
Dự thảo quy chuẩn đưa ra yêu cầu về lựa chọn địa điểm, vị trí bãi chôn lấp chất thải rắn cũng như yêu cầu về thiết kế và xây dựng bãi chôn lấp chất thải rắn.
Theo đó, địa điểm bãi chôn lấp chất thải rắn phải nằm trong quy hoạch bảo vệ môi trường quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh hoặc quy hoạch xây dựng đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
Vị trí bãi chôn lấp chất thải rắn không nằm trong vùng lũ, cấu trúc địa chất không ổn định, vùng biển xói lở và đáp ứng khoảng cách an toàn môi trường theo quy định của pháp luật.
Khu vực xây dựng bãi chôn lấp chất thải rắn phải có quỹ đất đảm bảo đủ diện tích, thể tích đáp ứng yêu cầu chôn lấp lượng chất thải rắn phát sinh tối thiểu từ 20 năm trở lên trong vùng quy hoạch. Quy mô bãi chôn lấp chất thải rắn được xác định theo quy đinh tại TCVN 13766: 2023- Chất thải rắn– bãi chôn lấp hợp vệ sinh– yêu cầu thiết kế.
Việc thiết kế và xây dựng bãi chôn lấp chất thải rắn sinh hoạt và chất thải rắn công nghiệp thông thường được xem xét, thực hiện theo hướng dẫn của Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 13766: 2023, trong đó phải đáp ứng ba yêu cầu cụ thể.
Thứ nhất, thành và đáy có cấu tạo ít nhất gồm lớp lót đáy, lớp thu gom nước rỉ rác; lớp chống thấm và lớp đất sét nền gia cố. Trường hợp bãi chôn lấp được thiết kế để chôn lấp chất thải rắn sinh hoạt và chất thải rắn công nghiệp thông thường thì phải được thiết kế thành các ô riêng biệt cho chất thải rắn sinh hoạt và cho chất thải rắn công nghiệp thông thường.
Thứ hai, hệ thống thu gom nước rỉ rác phải được thiết kế và lắp đặt để hạn chế thấp nhất khả năng tích tụ nước ở đáy ô chôn lấp, bao gồm các rãnh, ống dẫn và hố thu đảm bảo thu gom toàn bộ nước rò rỉ về trạm xử lý nước thải. Mạng lưới ống thu gom nước rỉ rác phải được đặt ở bên trong tầng thu gom và phân bố đều trên toàn bộ đáy ô chôn lấp. Phải có đường ống kỹ thuật để thực hiện thông tắc đường ống thu gom nước rỉ rác phát sinh trong quá trình vận hành.
Thứ ba, bãi chôn lấp chất thải rắn sinh hoạt và chất thải rắn công nghiệp thông thường phải có hệ thống thu gom và xử lý khí bãi rác. Theo đó, bãi chôn lấp có quy mô nhỏ và vừa (nhỏ hơn 100 nghìn tấn/năm) đến hơn 200 nghìn tấn/năm bắt buộc phải có hệ thống thu gom khí bãi rác.
Tuy nhiên, với bãi chôn lấp có quy mô nhỏ hơn 100 nghìn tấn/năm không bắt buộc phải có hệ thống xử lý khí bãi rác. Còn với bãi chôn lấp có quy mô trên 100 nghìn tấn đến 200 nghìn tấn phải xử lý hoặc đột bỏ. Đặc biệt, với bãi chôn lấp quy mô rất lớn (trên 200 nghìn tấn/năm) phải có hệ thống xử lý và thu hồi năng lượng.
Ngoài ra, việc thiết kế và xây dựng bãi chôn lấp chất thải nguy hại được tham khảo theo hướng dẫn của Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 13439: 2022 về bãi chôn lấp chất thải nguy hại- Yêu cầu thiết kế, trong đó phải bắt buộc đáp ứng yêu cầu cụ thể.
Theo đó, thành và đáy có cấu tạo ít nhất gồm lớp lót đáy, lớp thu gom nước rỉ rác thứ nhất; lớp chống thấm thứ nhất; lớp thu gom nước rỉ rác thứ hai; lớp chống thấm thứ hai; lớp đất sét nền gia cố.
Có hệ thống thu gom nước mưa riêng với hệ thống thu gom nước rỉ rác. Đối với các ô chôn lấp có kích thước lớn hơn 2.000 m2 phải thiết kế hệ thống thoát nước mưa trong ô chôn lấp độc lập với hệ thống thu gom nước rỉ rác. Hệ thống thoát nước mưa trong ô chôn lấp chỉ áp dụng khi chưa có chất thải. Chất thải đổ tới đâu, hệ thống thoát nước mưa trong ô chôn lấp sẽ được lấp đến đó.
Đồng thời có mái che (cố định hoặc di động) hoặc sử dụng bạt phủ kín toàn bộ ô chôn lấp chất thải nguy hại khi không hoạt động, chỉ được mở bạt để chôn lấp chất thải khi trời không mưa. Chiều cao tối đa của bãi chôn lấp chất thải nguy hại trên mặt đất không quá 5 m (tính cả lớp phủ bề mặt khi đóng bãi chôn lấp).
Lớp phủ bề mặt cuối cùng khi đóng bãi chôn lấp phải bao phủ toàn bộ diện tích bãi chôn lấp chất thải nguy hại và được kéo dài ra hai bên thành ô chôn lấp mỗi bên 0,6 m và có độ dốc tối thiểu 3-5% để nước mưa dễ dàng thoát khỏi bãi chôn lấp.
Bãi chôn lấp chất thải nguy hại có diện tích lớn hơn 5.000 m2 thì phải chia thành các ô chôn lấp với diện tích tối đa mỗi ô không quá 5.000 m2.
Dự thảo quy chuẩn cũng quy định cụ thể về vận hành bãi chôn lấp chất thải rắn. Chất thải rắn sinh hoạt và chất thải rắn công nghiệp thông thường phải được phân loại, ưu tiên lựa chọn tái sử dụng, tái chế nhằm hạn chế tối đa lượng chất thải phải chôn lấp.
Chất thải nguy hại phải được phân loại để tách các loại chất thải nguy hại không được phép chôn lấp trong bãi chôn lấp chất thải nguy hại và tiền xử lý (nếu cần thiết) trước khi chôn lấp. Dự thảo quy chuẩn cũng quy định cụ thể các chất thải nguy hại không được phép chôn lấp.
Công tác vận hành bãi chôn lấp chất thải nguy hại phải tuân thủ các quy định về quản lý chất thải nguy hại và tuân thủ quy trình được cơ quan cấp phép thực hiện dịch vụ xử lý chất thải nguy hại phê duyệt. Phải lập sổ nhật ký vận hành bãi chôn lấp chất thải rắn, trong đó ghi rõ thông tin về số lượng, loại và thành phần chất thải nguy hại được chôn lấp hàng ngày hoặc khối lượng, chủng loại chất thải rắn thông thường khác; kết quả đo đạc, phân tích và các giám sát khác của bãi chôn lấp.
Đối với bãi chôn lấp chất thải rắn sinh hoạt và chất thải rắn công nghiệp thông thường, không được phép chôn lấp các loại chất thải có khả năng tái chế sau khi được phân loại và các loại sản phẩm, bao bì phải được tái chế theo quy định; các loại chất thải rắn công nghiệp thông thường chứa các thành phần nguy hại vượt ngưỡng chất thải nguy hại theo quy định…




Sức ép từ thị trường và xu hướng tiêu dùng mới đang buộc nhiều doanh nghiệp khởi nghiệp phải tìm kiếm những động lực phát triển bền vững hơn. Trong bối cảnh đó, đổi mới sáng tạo, R&D và khai thác lợi thế từ nguồn lực bản địa đang nổi lên như những hướng đi giàu tiềm năng...
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng đề nghị các bộ, ngành, địa phương tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm, chủ trương của Đảng “phát triển nhanh nhưng phải bền vững”; “không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần”; “bảo vệ môi trường phải được đặt ở vị trí trung tâm trong quá trình hoạch định chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và phát triển kinh tế xã hội của từng ngành, từng địa phương”.
Dựa trên hướng tiếp cận mới, các nhiệm vụ giải pháp phải có sự đột phá nhưng vẫn có tính kế thừa, thúc đẩy mạnh mẽ sự chuyển biến về nhận thức, hành động, kiến tạo thể chế, chính sách cho phát triển nhanh và bền vững kinh tế biển. Chuyển mạnh từ tư duy nặng về bảo vệ, bảo tồn sang phát triển nhanh và bền vững, chuyển từ phát triển kinh tế ven biển sang phát triển quốc gia hướng biển...
Một thay đổi lớn trong Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo sửa đổi là hoàn thiện chế định giao, cho thuê và đăng ký sử dụng khu vực biển. Dự thảo luật lần đầu tiên nghiên cứu bổ sung các cơ chế như đấu giá quyền sử dụng khu vực biển, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng khu vực biển và hồ sơ hải chính...
Điện sinh khối từ bã mía hiện chiếm hơn 95% tổng công suất điện sinh khối của Việt Nam, song đang gặp nhiều rào cản về cơ chế giá và chính sách phát triển. Mức giá mua điện thấp, quy định phân loại dự án chưa phù hợp và những vướng mắc trong cơ chế thanh toán khiến nguồn năng lượng tái tạo này chưa phát huy hết tiềm năng...
Bức tranh kinh tế của Việt Nam trong tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều chỉ số tăng trưởng tích cực. Điển hình như chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 5 tăng 8,8% so với cùng kỳ; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 11,8%....
Chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng mới, lấy phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính là quan điểm nhất quán hiện nay của Đảng và Nhà nước ta. Với đặc trưng là trung tâm cảng biển, công nghiệp... Hải Phòng có đầy đủ các điều kiện để trở thành địa phương đi đầu trong thí điểm các mô hình phát triển mới.