Ngày 17/3, Chương trình Đối tác Hành động Toàn cầu về Nhựa (GPAP) phối hợp với Đối tác Hành động Quốc gia về Nhựa Việt Nam (NPAP) công bố báo cáo “Đánh giá ô nhiễm nhựa - Đa dạng sinh học”, với sự tài trợ của Chính phủ Canada và hỗ trợ kỹ thuật từ GreenU. Nghiên cứu cung cấp cái nhìn toàn diện về mối liên hệ giữa ô nhiễm nhựa với đa dạng sinh học, các dịch vụ hệ sinh thái và sinh kế địa phương tại Việt Nam.
Nghiên cứu tích hợp dữ liệu rò rỉ nhựa với các Khu vực Đa dạng Sinh học Trọng yếu (Key Biodiversity Areas) và các chỉ số kinh tế – xã hội nhằm xác định các điểm nóng sinh thái và kinh tế, bao gồm tác động đến rạn san hô, rừng ngập mặn, nguồn lợi thủy sản, du lịch và các cộng đồng ven biển.
Báo cáo cũng làm rõ các dòng chảy nhựa xuyên biên giới, sự suy thoái sinh cảnh và các khoảng trống chính sách hiện nay, đồng thời đưa ra các khuyến nghị nhằm điều chỉnh các hành động về nhựa phù hợp với mục tiêu bảo tồn đa dạng sinh học, tăng cường khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu và thúc đẩy phát triển tích cực với thiên nhiên.
Thông tin về kết quả nghiên cứu, bà Nguyễn Thu Trang, đại diện GreenU, cho biết ô nhiễm nhựa tại Việt Nam đang diễn ra trên quy mô rộng, trong đó dòng chảy nhựa chủ yếu đi từ đất liền ra biển.
Khoảng 80% rác thải nhựa đại dương có nguồn gốc từ đất liền, được vận chuyển qua hệ thống sông ngòi, kênh rạch - vốn được ví như “băng chuyền” đưa chất thải từ đô thị, khu công nghiệp và khu sản xuất ra các hệ sinh thái ven biển.
Vi nhựa đã được phát hiện phổ biến trong nhiều môi trường, từ sông, cửa sông đến rừng ngập mặn, bãi triều, rạn san hô và trầm tích ven bờ, cho thấy mức độ lan rộng và tích tụ đáng lo ngại.
Đáng lo ngại, vi nhựa đã xâm nhập sâu vào chuỗi thực phẩm, được phát hiện trong nhiều loài thủy sản phổ biến như nhuyễn thể, tôm và cá, qua đó làm gia tăng nguy cơ phơi nhiễm đối với con người.
Áp lực ô nhiễm tiếp tục gia tăng do quá trình đô thị hóa nhanh, hệ thống quản lý chất thải còn hạn chế, cùng với sự phát triển mạnh của du lịch ven biển và nuôi trồng thủy sản. Ước tính mỗi ngày có khoảng 1.531 tấn chất thải nhựa bị thất thoát ra môi trường, tương đương hơn 558.000 tấn mỗi năm.
Tác động của ô nhiễm nhựa không phân bố đồng đều mà tập trung tại các “điểm nóng”, nơi hội tụ lượng phát sinh lớn, mức độ phơi nhiễm cao, hệ sinh thái nhạy cảm và khả năng thích ứng thấp.
Theo báo cáo, nguy cơ tác động đến các khu vực đa dạng sinh học bao gồm 8 vùng sinh thái trên cạn và 6 vùng . Các khu vực rủi ro cao bao gồm đồng bằng sông Hồng, vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, đồng bằng sông Cửu Long và dải ven biển miền Trung. Đặc biệt, các khu bảo tồn nằm ở hạ lưu sông lớn hoặc vùng cửa sông ven biển phải chịu áp lực kép từ nguồn thải tại chỗ và rác thải trôi từ thượng nguồn.
Về mặt hệ sinh thái, ô nhiễm nhựa gây ra các tác động đa chiều, từ vướng mắc, nuốt phải đến tác động hóa học và biến đổi sinh cảnh. Đáng chú ý, san hô tiếp xúc với rác thải nhựa có nguy cơ mắc bệnh cao gấp gần 20 lần, trong khi rừng ngập mặn bị suy giảm khả năng hấp thụ carbon do sự tích tụ nhựa trong trầm tích.
Theo báo cáo, Hệ thống pháp luật về Nhựa và đa dạng sinh học tại Việt Nam hiện chia thành 3 giai đoạn phát triển chính.
Trước năm 2009, là giai đoạn nền tảng cho việc quản lý chất thải nhựa. Trong thời kỳ này, nhựa chủ yếu được quản lý như một loại chất thải rắn. Luật Đa dạng sinh học năm 2008 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho công tác bảo tồn và thực hiện các cam kết quốc tế.
Từ năm 2010-2020 là giai đoạn nhận thức và hành động, bao gồm tăng cường chính sách về kinh tế biển và giảm rác thải nhựa đại dương được tăng cường; bổ sung khung pháp lý cho bảo tồn thông qua Luật Thủy sản và Luật Lâm nghiệp.
Từ năm 2020 đến nay, Việt Nam đã bước vào giai đoạn luật hóa và hội nhập quốc tế, với những bước tiến đáng kể trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Luật Bảo vệ môi trường 2020 đã thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, thực hiện trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR) và giảm thiểu việc sử dụng nhựa dùng một lần. Bên cạnh đó, Chiến lược Đa dạng sinh học đến năm 2030 đã gắn kết chặt chẽ với Khung Đa dạng sinh học toàn cầu và tiến trình Thỏa thuận nhựa toàn cầu.
"Các chính sách về quản lý chất thải nhựa trong Luật Bảo vệ Môi trường và các văn bản hướng dẫn thi hành, mặc dù được điều chỉnh độc lập, nhưng mang lại tác động tích cực đến đa dạng sinh học và có mối liên hệ nhất định," bà Trang cho biết.
Tuy nhiên, báo cáo chỉ ra những khoảng trống về chính sách, như sự thiếu kết nối giữa nhựa và đa dạng sinh học; sự lệch pha trong tiếp cận giữa vệ sinh môi trường với sức khỏe hệ sinh thái. Cùng với đó là khoảng trống pháp lý ở cấp độ luật: Luật Lâm nghiệp (quản lý rừng đặc dụng ‒ một loại hình khu bảo tồn) và Luật Thủy sản (quản lý Khu bảo tồn biển); sự phân tán thiếu đồng bộ, và thiếu cơ chế quản lý vòng đời khép kín...
Từ các phát hiện này, báo cáo đề xuất ba trụ cột hành động nhằm kiểm soát ô nhiễm nhựa gắn với bảo tồn đa dạng sinh học.
Thứ nhất, kiểm soát nguồn phát thải ngay từ đầu nguồn. Theo đó, báo cáo đề xuất thiết lập vùng đệm không xả thải (3‒5 km) quanh hệ sinh thái nhạy cảm (rừng ngập mặn, khu bảo tồn biển); triển khai bẫy rác tại cửa sông lớn (Hồng, Đồng Nai, Mekong); cơ chế ứng phó nhanh sau bão và lũ để thu gom rác trước khi ra biển;
Nghiên cứu cũng nhấn mạnh vấn đề thúc đẩy EPR và phân loại rác tại nguồn để giảm áp lực hệ thống xử lý; lồng ghép giới, tăng tiếp cận của phụ nữ trong phân loại, thu hồi vật liệu và các chương trình EPR.
Thứ hai, thúc đẩy chuyển đổi xanh trong các ngành kinh tế biển. Đối với ngư nghiệp, cần loại bỏ EPS trong nuôi trồng thủy sản, chuyển sang vật liệu bền vững (HDPE...); mở rộng chương trình thu hồi lưới thất lạc và ngư cụ hỏng.
Đối với ngành du lịch, cần thiết lập khu du lịch không rác nhựa dùng một lần (ví dụ: Côn Đảo, Cù Lao Chàm); yêu cầu thu hồi rác bắt buộc đối với tàu du lịch và cơ sở ven biển
Thứ ba, báo cáo đề xuất tăng cường bảo tồn, phục hồi hệ sinh thái dựa trên khoa học và sự tham gia của cộng đồng.
“Các giải pháp này cần được triển khai đồng bộ, dựa trên bằng chứng và có sự phối hợp đa bên để đạt hiệu quả bền vững”, nhóm nghiên cứu nhấn mạnh.



Sức ép từ thị trường và xu hướng tiêu dùng mới đang buộc nhiều doanh nghiệp khởi nghiệp phải tìm kiếm những động lực phát triển bền vững hơn. Trong bối cảnh đó, đổi mới sáng tạo, R&D và khai thác lợi thế từ nguồn lực bản địa đang nổi lên như những hướng đi giàu tiềm năng...
Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng đề nghị các bộ, ngành, địa phương tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm, chủ trương của Đảng “phát triển nhanh nhưng phải bền vững”; “không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần”; “bảo vệ môi trường phải được đặt ở vị trí trung tâm trong quá trình hoạch định chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và phát triển kinh tế xã hội của từng ngành, từng địa phương”.
Dựa trên hướng tiếp cận mới, các nhiệm vụ giải pháp phải có sự đột phá nhưng vẫn có tính kế thừa, thúc đẩy mạnh mẽ sự chuyển biến về nhận thức, hành động, kiến tạo thể chế, chính sách cho phát triển nhanh và bền vững kinh tế biển. Chuyển mạnh từ tư duy nặng về bảo vệ, bảo tồn sang phát triển nhanh và bền vững, chuyển từ phát triển kinh tế ven biển sang phát triển quốc gia hướng biển...
Một thay đổi lớn trong Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo sửa đổi là hoàn thiện chế định giao, cho thuê và đăng ký sử dụng khu vực biển. Dự thảo luật lần đầu tiên nghiên cứu bổ sung các cơ chế như đấu giá quyền sử dụng khu vực biển, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng khu vực biển và hồ sơ hải chính...
Điện sinh khối từ bã mía hiện chiếm hơn 95% tổng công suất điện sinh khối của Việt Nam, song đang gặp nhiều rào cản về cơ chế giá và chính sách phát triển. Mức giá mua điện thấp, quy định phân loại dự án chưa phù hợp và những vướng mắc trong cơ chế thanh toán khiến nguồn năng lượng tái tạo này chưa phát huy hết tiềm năng...
Bức tranh kinh tế của Việt Nam trong tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều chỉ số tăng trưởng tích cực. Điển hình như chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 5 tăng 8,8% so với cùng kỳ; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 11,8%....
Chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng mới, lấy phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính là quan điểm nhất quán hiện nay của Đảng và Nhà nước ta. Với đặc trưng là trung tâm cảng biển, công nghiệp... Hải Phòng có đầy đủ các điều kiện để trở thành địa phương đi đầu trong thí điểm các mô hình phát triển mới.